Sợ Hãi Cái Chết, Kinh Tăng Chi Bộ (song ngữ)

01 Tháng Ba 201517:35(Xem: 8066)
Sợ Hãi Cái Chết, Kinh Tăng Chi Bộ
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
(Fear Of Death, Anguttara Nikaya
Translated by Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi - Source:
www.bps.lk)

Sợ Hãi Cái Chết, Kinh Tăng Chi Bộ 

 

Một lần kia, có vị Bà-La-Môn tên là Jāṇussoṇi, đến gần Đức Phật, rồi thưa hỏi ngài như sau:

"Kính thưa Thầy Gotama (Cồ Đàm), tôi vẫn giữ ý nghĩ, cho rằng không ai mà không sợ cái chết, và không ai mà không sợ bị chết."

"Nầy Bà-La-Môn, quả thật có người sợ cái chết, và có người sợ bị chết. Tuy nhiên, cũng có người không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết. Câu hỏi là: ai sợ chết và ai không sợ chết?

"Nầy Bà-La-Môn, đã có người hãy còn tham muốn khoái lạc nhục dục, hãy còn lòng ham muốn và thích sự trìu mến, hãy còn tính khao khát và sôi nổi, hãy còn đói khát dục lạc. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình đang có một căn bệnh hiểm nghèo. Cho nên, người nầy khổ sở và đau đớn, rồi nghĩ rằng: 'Ôi, thú vui nhục dục đang xa lìa ta, và ta sẽ phải lìa xa chúng!' Rồi, người nầy đau buồn, rên rỉ, than vãn, vừa khóc và lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy như thành người điên loạn. Đây là người sợ cái chết, và cũng sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người hãy còn tham muốn cái thân thể nầy, hãy còn lòng ham muốn và thích sự trìu mến, hãy còn tính khao khát và sôi nổi, hãy còn đói khát cái thân thể nầy. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình đang có một căn bệnh hiểm nghèo. Cho nên, người nầy khổ sở và đau đớn, rồi nghĩ rằng: 'Ôi, cái thân thể đẹp đẽ nầy đang xa lìa ta, và ta sẽ phải lìa xa chúng!' Rồi, người nầy đau buồn, rên rỉ, than vãn, vừa khóc và lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy như thành người điên loạn. Đây cũng là người sợ cái chết, và cũng sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người mà không làm điều gì tốt và lành mạnh, người mà không tự làm nhà để an trú; người mà chỉ làm những điều ác, dữ tợn và xấu xa. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình đang có một căn bệnh hiểm nghèo. Cho nên, người nầy khổ sở và đau đớn, rồi nghĩ rằng: 'Ôi, ta đã không làm điều gì tốt và lành mạnh, ta đã không tự làm nhà để an trú; ta chỉ làm những điều ác, dữ tợn và xấu xa. Kiếp sau, ta sẽ bị đi về cõi dành cho những người làm ác như thế.' Rồi, người nầy đau buồn, rên rỉ, than vãn, vừa khóc và lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy như thành người điên loạn. Đây cũng là người sợ cái chết, và cũng sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người bối rối vì nghi ngờ về sự nhiệm mầu của Phật Pháp, nên không có niềm tin. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình đang có một căn bệnh hiểm nghèo. Cho nên, người nầy khổ sở và đau đớn, rồi nghĩ rằng: 'Ôi, ta đã bối rối vì nghi ngờ về sự nhiệm mầu của Phật Pháp, nên ta không có niềm tin!' Rồi, người nầy đau buồn, rên rỉ, than vãn, vừa khóc và lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy như thành người điên loạn. Đây cũng là người sợ cái chết, và cũng sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, đấy là bốn loại người sợ cái chết, và cũng sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thế thì, ai là người không sợ chết?

"Nầy Bà-La-Môn, đã có người không còn tham muốn khoái lạc nhục dục, không còn lòng ham muốn và thích sự trìu mến, không còn tính khao khát và sôi nổi, không còn đói khát dục lạc. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình vừa có một căn bệnh hiểm nghèo, người nầy không có ý nghĩ: 'Ôi, thú vui nhục dục đang xa lìa ta, và ta sẽ phải lìa xa chúng!' Rồi, người nầy sẽ không đau buồn, rên rỉ, than vãn, không khóc và không lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy cũng không thành người điên loạn. Đây là người không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người không còn tham muốn cái thân thể nầy, không còn lòng ham muốn và thích sự trìu mến, không còn tính khao khát và sôi nổi, không còn đói khát cái thân thể nầy. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình vừa có một căn bệnh hiểm nghèo, người nầy không có ý nghĩ: 'Ôi, cái thân thể đẹp đẽ đang xa lìa ta, và ta sẽ phải lìa xa chúng!' Rồi, người nầy sẽ không đau buồn, rên rỉ, than vãn, không khóc và không lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy cũng không thành người điên loạn. Đây là người không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người không làm điều gì ác, dữ tợn và xấu xa, mà chỉ làm những điều tốt và lành mạnh, và tự làm nhà để an trú. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình vừa có một căn bệnh hiểm nghèo, người nầy có ý nghĩ: 'Ta đã không làm điều gì ác, dữ tợn và xấu xa, mà chỉ làm những điều tốt và lành mạnh, và ta đã tự làm nhà để an trú. Kiếp sau, ta sẽ đi về cõi dành cho những người làm điều thiện như thế.' Rồi, người nầy sẽ không đau buồn, rên rỉ, than vãn, không khóc và không lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy cũng không thành người điên loạn. Đây là người không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, thêm vào đó, đã có người không bối rối và không nghi ngờ về sự nhiệm mầu của Phật Pháp nên có niềm tin vững chắc. Rồi đột nhiên, người nầy biết ra, mình vừa có một căn bệnh hiểm nghèo, người nầy có ý nghĩ: 'Ta đã không bối rối và không nghi ngờ về sự nhiệm mầu của Phật Pháp, nên ta có niềm tin vững chắc!' Rồi, người nầy sẽ không đau buồn, rên rỉ, than vãn, không vừa khóc và không lấy tay đấm vào ngực, rồi người nầy cũng không thành người điên loạn. Đây cũng là người không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết.

"Nầy Bà-La-Môn, đấy là bốn loại người mà không sợ cái chết, và cũng không sợ bị chết."

"Thật là tuyệt vời! Kính thưa Thầy Gotama (Cồ Đàm)... kính xin Thầy Gotama nhận con làm Phật Tử, con xin quy y ngài từ ngày hôm nay, và cho đến trọn đời."

67. Fear Of Death, Anguttara Nikaya 

 

Once the brahmin Jāṇussoṇi approached the Blessed One and addressed him thus:

“I maintain, Master Gotama, and hold the view that there is no mortal who does not fear death, who is not afraid of death.”

“There is indeed, brahmin, such a mortal who fears death, who is afraid of death. But there is also a mortal who has no fear of death, who is not afraid of death. And who is the one who fears death and the other who does not fear death?

“There is, brahmin, a person who is not free from lust for sensual pleasures, not free from the desire and affection for them, not free from thirsting and fevering after them, not free from craving for sensual pleasures. Then it happens that a grave illness befalls him. Thus afflicted by a grave illness, he thinks: ’Oh, those beloved sensual pleasures will leave me, and I shall have to leave them!’ Thereupon he grieves, moans, laments, weeps beating his breast, and becomes deranged. This mortal is one who fears death, who is afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who is not free from lust for this body, not free from desire and affection for it, not free from thirsting and fevering after it, not free from craving for the body. Then it happens that a grave illness befalls him. Thus afflicted by a grave illness, he thinks: ’Oh, this beloved body will leave me, and I shall have to leave it.’ Thereupon he grieves … and becomes deranged. This mortal too is one who fears death, who is afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who has not done anything good and wholesome, who has not made a shelter for himself; but he has done what is evil, cruel and wicked. Then it happens that a grave illness befalls him. Thus afflicted by a grave illness, he thinks: ’Oh, I have not done anything good and wholesome, I have not made a shelter for myself; but I have done what is evil, cruel and wicked. I shall go hereafter to the destiny of those who do such deeds.’ Thereupon he grieves … and becomes deranged. This mortal too is one who fears death, who is afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who has doubts and perplexity about the good Dhamma and has not come to certainty in it. Then it happens that a grave illness befalls him. Thus afflicted by a grave illness, he thinks: ’Oh, I am full of doubts and perplexity about the good Dhamma and have not come to certainty in it!’ Thereupon he grieves, moans, laments, weeps beating his breast and becomes deranged. This mortal too is one who fears death, who is afraid of death.

“These, brahmin, are the four mortals who fear death and are afraid of death.

“But which mortal, brahmin, does not fear death?

“There is, brahmin, a person who is free from lust for sensual pleasures, free from desire and affection for them, free from thirsting and fevering after them, free from craving for sensual pleasures. When a grave illness befalls him, no such thoughts come to him: ’Oh, these beloved sensual pleasures will leave me and I shall have to leave them!’ Hence he does not grieve or moan, lament or weep beating his breast, nor does he become deranged. This mortal is one who does not fear death, who is not afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who is free from lust for this body …. When a grave illness befalls him, no such thoughts come to him: ’Oh, this beloved body will leave me and I shall have to leave it!’ Hence he does not grieve … nor does he become deranged. This mortal too is one who does not fear death, who is not afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who has not done anything evil, cruel or wicked, but has done what is good and wholesome, who has made a shelter for himself. When a grave illness befalls him, these thoughts come to him ’I have not done anything evil, cruel, or wicked, but have done what is good and wholesome, I have made a shelter for myself. I shall go hereafter to the destiny of those who do such deeds.’ Hence he does not grieve … nor does he become deranged. This mortal too is one who does not fear death, who is not afraid of death.

“Further, brahmin, there is a person who has no doubts and perplexity about the good Dhamma and has gained certainty in it. When a grave illness befalls him, this thought comes to him: ’I am free of doubt and perplexity about the good Dhamma and have gained certainty in it.’ Hence he does not grieve or moan, lament or weep beating his breast, nor does he become deranged. This mortal too is one who does not fear death, who is not afraid of death.

“These, brahmin, are the four mortals who do not fear death and are not afraid of death.” [143]

“Excellent, Master Gotama! … Let Master Gotama accept me as a lay follower who has gone for refuge from today until life’s end.”

 

[143] For more of the same theme, fear of death, see Sāriputta’s two discourses of the ailing lay disciple Anāthapiṇḍika at SN 55.26, 27.


Source: 

http://www.bps.lk/olib/wh/wh155-u.html#S67

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Mười Một 2014(Xem: 9088)
Khi xưa, vào thời Đức Phật, tại thành Vesali xảy ra ba khổ nạn là bệnh tật, phi nhơn hoành hành và nghèo đói. Ba hiểm nạn lớn đó đã khiến cho dân thành Vesali khốn đốn. Các vị Hòang thân Licchavi khởi lên niềm tin nơi Đức Phật. Họ tin rằng chỉ có Đức Phật, với trí tuệ và uy lực của Ngài, mới có thể giúp người dân trong thành Vesali thoát khỏi khổ nạn và đem đến sự an lành.
29 Tháng Tám 2014(Xem: 12567)
Bài Kinh này gián tiếp giới thiệu một cách khái quát giá trị tâm linh của người xuất gia, bắt đầu bằng một đời sống thanh cao, không màn đến sở hữu tài sản vật chất thế gian. Mục đích của người tu không phải để được làm trụ trì một ngôi chùa, được người đời cúng dường và cung kính, mà nhằm tầm cầu con đường tâm linh, hướng đến các giá trị nội tại. Các giá trị đó chỉ có thể đạt được bằng cách thực hành theo con đường trung đạo, khởi đi bằng cái nhìn đúng đắn (chánh kiến) và kết thúc bằng đời sống thiền định
01 Tháng Tám 2014(Xem: 7965)
Thế Tôn thuyết như sau: -- Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ. ... The Blessed One said this: "This is the direct path for the purification of beings, for the overcoming of sorrow and lamentation, for the disappearance of pain and distress, for the attainment of the right method, and for the realization of Unbinding -- in other words, the four frames of reference. Which four?
19 Tháng Bảy 2014(Xem: 8325)
Kinh điển Pali bao gồm hàng ngàn bộ kinh, và đang được phổ biến rộng rãi trên mạng. Đứng trước kho tàng đồ sộ đó, tự nhiên bạn sẽ bối rối: Tại sao tôi nên đọc những kinh này? Đọc kinh nào bây giờ? Đọc như thế nào?
17 Tháng Sáu 2014(Xem: 19761)
Đây là quyển Kinh Tụng Pāḷi-Việt dành cho Phật tử Nguyên thủy, được dịch và biên soạn bằng văn vần dựa theo Pāḷi. Khá nhiều bài ở đây, đã được tụng đọc trong suốt nhiều năm qua tại một số chùa Phật giáo Nguyên thủy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, do sao qua chép lại, và do nơi này nơi kia đã tự ý sửa chữ, đổi lời - nên nhiều câu, nhiều từ bị “biến dạng” đi!
15 Tháng Sáu 2014(Xem: 13397)
Người mất ngủ thấy đêm dài Đường xa nặng trĩu đôi vai lữ hành Ngu nhân chẳng thấy pháp lành Luân hồi nào biết mối manh nẻo về.
27 Tháng Ba 2014(Xem: 11998)