Kinh Tâm Bát Nhã Ba La Mật Đa

22 Tháng Ba 201608:55(Xem: 1991)
KINH TÂM
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Dịch giải: Tỳ kheo Thích Minh Điền 
LỜI TỰA 

Kinh tâm - Bát nhã ba la mật đa là một bản kinh được rút ra từ bộ kinh Đại Bát nhã, gom lại thành 262 từ. Qua nhiều thế hệ dịch thuật, các dịch giả đã viết bài kinh này lên lá bối. Đến thế kỷ thứ VII, ngài Huyền Trang đã cho khắc bản kinh tâm này vào đá ở tại chùa Bạch Mã, nơi ngài trụ trì.

Toàn văn bài kinh Tâm này hiển bày Diệu lý vô trụ, nhằm giúp hành giả tự tâm vượt thoát mọi thứ tình chấp mang tính cục bộ sai lầm của vọng tưởng. Diệu lý này được gọi là Trí tuệ Bát nhã. Trí tuệ này có năng lực hóa giải hết thảy mọi chấp trước thâm căn cố đế của tình thức, nhằm làm hiển lộ thực tướng các pháp.

Hành giả mỗi khi trực nhận được thực tướng các pháp ngang qua quán chiếu Bát nhã, thì tức thời giải trừ mọi động cơ dẫn đến sầu bi khổ ưu não; tỉnh thức nội tại bừng sáng, vượt thoát sinh tử. Đó là tôn chỉ mà cũng là mục đích của toàn kinh Đại Bát Nhã.

Chúng tôi trân trọng dịch thuật và lược giải kinh tâm này, ngõ hầu phần nào gợi mở chân trời giải thoát giác ngộ cho những ai có duyên với Đại thừa, cảm nhận được nơi thú hướng.

Thành tâm cảm niệm ân đức sâu dày của đức Thế Tôn, chư Thánh hiền Tăng, Hòa thượng bổn sư, cùng chư thiện tri thức đã dày công tu tập và lưu truyền Pháp bảo này.

Tâm thành ý thiển, không sao tránh khỏi những sai sót lỗi lầm. Ngưỡng mong chư Tôn thiền đức Tăng già, và quý thiện hữu tri thức từ bi chỉ giáo, để hàng hậu học chúng con được thấm nhuần diệu chỉ.

Mùa Phật đản - Phật lịch 2555 - May-28-2011 
Tỳ kheo Thích Minh Điền

 

摩呵般若波羅密多心經

 

觀自在菩薩行深般若波羅密多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。

舍利子,色不異空,空不異色,色即是空,空即是色,受想行識亦復如是。舍利子,是諸法空相,不生不滅,不垢不淨,不增不減。是故空中,無色無受想行 識,無眼耳鼻舌身意,無色聲香味觸法。無眼界,乃至無意識界。無無明,亦無無明盡,乃至無老死,亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故,菩提薩 鬌依般若菠羅蜜多故,心無罣礙,無罣礙故,無有恐怖,遠籬顛倒夢想,究竟涅槃三世諸佛,依般若波羅蜜多故,得阿耨多羅三貓三菩提.故知般若波羅蜜多,是大 神咒,是大明咒,是無上咒,是無等等咒能除一切苦,真實不虛。故說般若波羅蜜多咒,即說咒曰:揭諦揭諦,波羅揭諦,波羅僧揭諦,菩提薩婆訶。

 

Âm Phạn: Gate gate paragate parasamgate Bodhi svaha.

DỊCH NGHĨA VIỆT
KINH TÂM
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

 

Bồ tát Quán Tự Tại thực hành thâm sâu Bát nhã ba la mật đa, khi ấy soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt thoát hết thảy khổ đau ách nạn.

Này Xá Lợi tử ! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

Này Xá Lợi tử ! Các pháp không tướng, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Bởi vậy trong KHÔNG: không sắc không thọ, không tưởng, hành, thức. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có tầm nhìn hạn cuộc của chính nhãn thức. Cho đến không có phân biệt hạn cuộc của chính ý thức.

Không vô minh, cũng không có sự chấm dứt vô minh. Cho đến không già chết, cũng không hết già chết.

Không khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc. Do không có sở đắc, Bồ tát nương theo Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không ngăn ngại. Bởi tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi, lìa hẳn điên đảo mộng tưởng, rốt ráo niết bàn (1).

Chư Phật ở trong ba đời đều nương Bát nhã ba la mật đa, nên chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Nên biết Bát nhã ba la mật đa là chú thần lớn, là chú sáng lớn, là chú không trên, là chú không gì sánh bằng. Nó có năng lực trừ hết thảy khổ, chân thật không hư dối. Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa.

Liền nói chú rằng: Ga tê ga tê, pa ra ga tê, pa ra săm ga tê, bô đi soa ha.

Ghi chú:

*Âm Phạn: Gate gate, Pàragate, Pàrasaṃgate, Bodhi svàhà.

*Âm Hán Việt: Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

(1) (Lìa bốn cú: Có, không, cũng có cũng không, không có không không).

DẪN NHẬP                                   

Trong hệ kinh Phật giáo phát triển, mỗi khi đề cập đến giáo nghĩa Đại thừa là phải nói đến  kinh Đại Bát nhã. Vì Bát nhã là cội nguồn mà từ đó, các trào lưu Đại thừa phát khởi. Bởi Bát nhã là thật trí, nên tự thân nó siêu vượt hết thảy mọi cặp phạm trù đối đãi của hai bên (nhị nguyên). Từ Bát nhã được phiên âm từ tiếng Phạn là Prajñā (प्रज्ञा) và được dịch nghĩa là Trí tuệ cứu cánh, hay là trí không. Nhưng dù dịch là gì đi nữa, thì tiếng Trung Hoa và tiếng Việt cũng không lột hết ý nghĩa bao hàm trong tiếng Phạn, nên rốt cùng cũng dùng thuật ngữ tiếng Phạn là Bát nhã.

Nói đến trí thường làm cho người nghiên cứu dễ hiểu lầm là trí năng, tức sự phát sóng của vỏ não để hình thành những tự ngôn tự ngữ trong tâm thức. Năng lực của trí thức thường được hiểu như là trí thông minh của bộ não để lãnh hội những kiến thức cũ, hoặc hình thành những kiến thức mới. Những bộ não thông minh ấy được đức Phật gọi là Thế trí biện thông, bao hàm cả thiện lẫn ác, nên hệ quả đem lại là vui ít, khổ nhiều. Vì vậy cho nên, trí ấy nghiễm nhiên gắn liền với nghiệp chướng.

Khác với năng lực của nghiệp, trí tuệ Bát nhã là thứ trí tuệ bản nhiên nên tự thân siêu việt thiện ác. Trí vô phân biệt (trí không) nên cũng gọi là trí giác ngộ hay trí Phật. Trí này từ trong bản chất, nó xa lìa mọi động cơ chấp thủ của tình thức (lìa tứ cú), tuyệt nhiên thanh tịnh và trong suốt như hư không vô sở hữu, nhưng dung chứa sum la vạn tượng trong ấy. Nó hiện hữu một cách siêu việt vi diệu nơi mỗi tâm hồn, nên gọi là bản giác.

Vì từ trong bản chất nó tịch chiếu như thế (như thị) nên hoàn toàn tự tại trước mọi đối tượng nhận thức, ở trong mọi hoàn cảnh. Nó vốn vượt thoát thời gian và không gian, nên không bị mọi đối tượng và hoàn cảnh buộc ràng, nên cũng gọi là quán tự tại. Bởi quán tự tại, nên soi suốt thực thể các pháp như nó đang là (mà không khởi vọng tâm lập trước vật), nên gọi là thật tướng Bát nhã.

Lại cũng một thứ trí tuệ Bát nhã, nhưng ở trên phương diện chiếu soi các hiện tượng thì gọi là quán chiếu Bát nhã. Và mặc dầu dụng là quán chiếu, nhưng ở nơi bản thể thì vẫn tịch nhiên vắng lặng, như tấm gương trong suốt phản chiếu mọi bóng hình, nhưng mặt gương thì vẫn như như bất động. Thể là tịch mà dụng là chiếu, tuy hai mà một, tuy một mà hai; bởi thể dụng chẳng hai (bất nhị).

Vì rỗng không vắng lặng, nên mới soi thấy năm uẩn đều không, và được mệnh danh là tuệ quán thể đồng nhất. Thuật ngữ Phật giáo gọi tính thấy ấy là tính Thuấn nhã đa, được phiên âm từ tiếng Phạn là Śūnyatā (शून्यता) dịch nghĩa là tính không. Tính không là tâm thể tịch chiếu bản nhiên, nên tự nó thoát ly hai thứ tình chấp là ngã và pháp (ta và của ta), nên cũng gọi là chân tâm. Vì là chân tâm nên mọi khái niệm của tâm thức không thể với tới, mà chỉ thể nhập bằng con đường đạo học, tức tâm chứng thật tướng Bát nhã mới lãnh hội được.

Ai có nghiên cứu giáo nghĩa Phật giáo Nhị thừa, thì cũng đều cảm nhận được rằng, tinh hoa của giáo pháp này quy tụ một điểm là duyên khởi. Phật giáo sở dĩ khác với những tôn giáo khác là chỉ ở điểm này. Những ai đã cảm nhận được lẽ thật về tính duyên khởi của mọi sự vật hiện tượng, thì không thể thừa nhận một đấng tạo hóa. Bởi trên thật tế của mọi hiện tượng tâm lý và vật lý thì không có thứ gì từ cái một mà có ra; mà tất cả sự sự vật vật đều do nhiều yếu tố hợp lại hình thành (nhân duyên sinh). Vì vậy cho nên, người nào thừa nhận luật duyên khởi, thì người ấy chính là Phật tử trên bình diện nhận thức rồi vậy. Và ngược lại, cho dầu là tín đồ hay Tăng sĩ Phật giáo, nhưng không nhận ra duyên khởi, không tin nhân quả để chuyển hóa thân tâm và ngoại tại từ xấu sang tốt, từ ác sang thiện, thì họ chỉ là ngoại đạo trá hình mà thôi. Nói thế để nhấn mạnh rằng, giáo lý duyên khởi là cốt tủy của Phật giáo Nhị thừa.

Dưới tuệ giác của đức Phật thì mọi sự vật hiện tượng đều do duyên khởi mà hình thành, nên không tự tính. Vì không tự tính nên không thật thể. Vì không thật thể (vô ngã) nên không cố định (vô thường). Sự sự vật vật đều không tự tính, không thật thể, không cố định nên không thể khẳng định là gì, cũng không thể phủ định không gì. Vì không thể khẳng định, cũng không thể phủ định nên nhị biên đều dứt tuyệt, trí Bát nhã mới hiện bày. Đó là lộ trình mở ra tri kiến Phật, hay làm hiển lộ chân lý của giáo nghĩa Đại thừa. Vì vậy cho nên, nếu không có giáo lý duyên khởi thì không có Phật giáo Nhị thừa; nếu không có giáo lý Bát nhã thì cũng không có Phật giáo đại thừa vậy.

Khi đã thừa nhận duyên khởi, thì tất nhiên cũng thừa nhận hai lý tính là vô ngã và vô thường. Hết thảy mọi hiện tượng tâm lý và vật lý, từ những thứ mắt thấy, tai nghe cho đến những suy tư nhận thức, hết thảy đều không có tự thể, cho dù đang hiện hữu trước mắt (đương thể tức không). Sự hiện hữu ấy chỉ do các duyên, tức các điều kiện hợp thành. Vì vậy cho nên, qua lăng kính của trí Bát nhã giúp chúng ta thấy rõ thật tại các pháp. Từ loài hữu tình, cho đến loài vô tình đều mang lý tính vô ngã và vô thường, nên luôn luôn chuyển biến từ dạng này sang dạng khác do nghiệp cảm duyên khởi tương ứng, hay chính năng lực tiềm tại chuyển hóa trong mỗi yếu tố duyên sinh(1). Bởi nhân và pháp  vô ngã, nên mọi hiện tượng luôn được trở thành. Đến đây tính thống nhất và tương tục từ Phật giáo nguyên thủy cho đến Phật giáo đại thừa đã quá rõ ràng.

Trước khi Phật giáo Đại thừa hưng thịnh, thì các trường phái A tỳ đàm trước nó chỉ triển khai nhân vô ngã, mà ít lưu tâm đến pháp vô ngã. Như trường phái “Nhất thiết hữu bộ” chủ trương rằng “Nhất thiết pháp giai hữu” với châm ngôn “Tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu”. Để đối kháng lại với chủ trương trên, các trường phái A tỳ đàm thuộc “Đại chúng bộ” lại đưa ra chủ thuyết là “Nhất thiết pháp giai không” ngang qua duy lý bởi suy luận của vỏ não với nền triết thuyết tinh vi. Các trường phái sau đưa giáo nghĩa của họ đến một kiến chấp ngoan không tai hại. Niết bàn của họ là sự đoạn diệt bởi cái chết, trong đó thân xác biến ra tro bụi, còn ý thức và trí tuệ thì không còn một chút lưu lại (khôi thân diệt trí). Hai trường phái trên rơi vào chấp có và chấp không do chính bộ não phát sóng giả lập mà hình thành (rơi vào cú thứ nhất và cú thứ hai).

Nếu vô ngã được hiểu theo nhân vô ngã mà thôi, thì sẽ rơi vào chấp pháp. Còn nếu thấy cả nhân lẫn pháp đều vô ngã, nhưng cái thấy ấy chỉ quanh quẩn trong những khái niệm giả lập của tâm thức bởi triết học duy lý, thì sẽ xa rời thực tại và trở thành ngoan không. Vô tình đưa chân lý sống động và bao hàm của đức Phật vào sự đóng khung trong tư tưởng chủ quan đã chết cứng tự bao giờ, bởi ngoan không duy lý, hay giáo điều phi thật. Nguy hại của nền triết học là ở điểm này, nên có nhiều triết thuyết đã đưa con người đi từ cực đoan này đến cực đoan khác, tại hại cho nhân loại rất lớn. Vì vậy cho nên, thà chấp có lớn như núi Tu di thì cũng có ngày nhận ra chân lý, còn hơn chấp không dầu nhỏ như hạt cải mòng thì sẽ rơi vào ngoan không của ngoại đạo.

Thừa hưởng truyền thống cả nhân lẫn pháp đều vô ngã của Đại chúng bộ; trường phái Bát nhã bằng trực quán tổng hợp, thấy rõ “pháp giới thông hóa” với “tuệ quán thể đồng nhất”, nên chứng nhập “đương thể tức không”. Sở quán không, nên năng quán tịch tịnh (lìa bốn cú), thực tại tuệ giác hiển lộ nên không bị chướng ngại trong khi soi thấy các pháp (chiếu kiến ngũ uẩn giai không). Ở trong phạm vi tuệ quán này, thì cái kiến thức do sở học hoàn toàn bất lực. Sở học chỉ giỏi tạo nên những khái niệm giả lập của tâm thức mà thôi. Hiện thực hóa khái niệm ấy phải do công phu Thiền quán, do quán chiếu Bát nhã. Vì vậy cho nên, các hành giả đã gạt qua một bên những gặm nhấm kinh sách, gạt qua sự tìm hiểu văn từ ngữ nghĩa với những mảnh bằng cấp, học vị mang tính học giả dễ bị đánh lừa, để dành hết thì giờ vào việc quán chiếu Bát nhã, tức tham thiền. Tham thiền chính là dụng chiếu soi bản nhiên của trí tuệ Bát nhã (Phật tính). Trí tuệ Bát nhã chính là thứ trí tuệ trực quán sâu xa vi diệu nơi mỗi tâm hồn, nên cũng gọi là bản giác. Bản giác tự thân nó siêu việt mọi tư lượng của bộ óc, vượt bỏ mọi cặp phạm trù lý luận của công họa sư tâm ý, nên cũng gọi là Thiền.(2)

Có thấu suốt được như vậy, mới nhận ra sự “hành thâm” và “chiếu kiến” trong câu mở đầu của kinh Tâm Bát nhã. Hành nghĩa là tự hành, như mặt gương trong suốt nên tự chiếu mọi cảnh vật, nhưng gương vẫn giữ được bản tính tịch nhiên của nó. Hành giả nhờ công phu quán chiếu Bát nhã, nên thật tướng Bát nhã mới hiển lộ, mới thấy rõ “đương thể tức không”, nên xa lìa tự tâm tư lượng (3). Khi ấy, quán chiếu không lìa thật tướng, tuy hai mà một, bởi “Thể - dụng chẳng hai” (thể dụng bất nhị).  Đó chính là điểm khác nhau giữa triết học và đạo học. Triết học chỉ xây dựng trên những khái niệm giả hữu, còn đạo học thì thể nhập chân lý bằng quán chiếu Bát nhã. Vì vậy cho nên, cái học từ chương không thể dùng được ở đây.

Dẫu rằng phải do công phu thiền quán chân lý mới hiển lộ, nhưng đối với những người sơ cơ học Phật thì làm sao để có được niềm tin về tuệ giác này để hạ thủ công phu tu tập. Vì vậy cho nên phải thuyết minh trí ấy như thế nào, để hé mở cho người sơ cơ biết được chân trời thú hướng giải thoát giác ngộ, ngõ hầu tìm lối trở về nhà. Vì vậy cho nên, phải dùng đến phương tiện (như ngón tay chỉ mặt trăng) nên gọi là văn tự Bát nhã. Phạm vi của văn tự bao hàm toàn bộ văn học Bát nhã, từ ngôn thuyết cho đến triết học. Vì vậy cho nên, văn tự Bát nhã cũng chính là triết học Bát nhã, và cả hai thứ này chỉ dùng như một phương tiện để giới thiệu về trí tuệ Bát nhã mà thôi. Nó không thể nào thay thế công phu quán chiếu Bát nhã được (tức tham thiền).

Nhưng nói đến triết học Bát nhã thì phải đề cập đến cơ sở lý luận, nhằm căn cứ vào đó mà triết học được triển khai. Đó là hệ thống luận lý học Bát nhã bằng những cặp phạm trù lý luận gọi là “bát bất trung đạo” (Luận Trung quán – Long Thọ), nhằm làm hiển lộ chân lý.

Còn lý luận thông thường là do sản phẩm giả lập của tâm thức, do sự phát sóng của vỏ não nên bản thân nó mang tính chủ quan của từng bộ óc và luôn xa rời thực tại.

Bát bất trung đạo là thứ luận lý siêu luận lý thế gian, nhằm giúp hành giả từ bỏ mọi cặp phạm trù của tư duy hữu ngã, để thể nhập chân lý bằng trực quán tổng hợp bởi quán chiếu Bát nhã. Luận lý này do ngài Long Thọ lập ra, để giúp hành giả cảm nhận “đương thể tức không” nhằm quét sạch những kiến chấp giả lập của tâm thức, để thể nhập thật tướng Bát nhã hay mở ra tri kiến Phật. Phương pháp luận lý này dùng phủ định một lúc tám cặp phạm trù bởi tâm thức chấp thủ, để giúp tâm thức vượt ra ngoài mọi phủ định và khẳng định thuộc tri kiến chúng sinh do sự giả lập của tình thức. Vì vậy cho nên, luận lý này được mệnh danh là “Bát bất trung đạo” nên làm hiển lộ “đệ nhất nghĩa đế”.

Xét về mặt hiện tượng thì chúng ta thấy rằng, các pháp vốn do duyên sinh nên vô ngã và vô thường. Lý tính vô ngã và vô thường chi phối vạn hữu, nên chúng ta không thể khẳng định là gì (chấp có), cũng không thể phủ định không gì (chấp không). Cái hiện hữu của phút giây trước không thể hiện hữu ở phút giây sau, mà luôn thay hình đổi dạng rất nhanh như dòng nước dốc chảy xiết vậy (sát na sinh diệt). Vì vậy cho nên, cả hai phạm trù khẳng định và phủ định đều là sản phẩm giả lập của vỏ não của từng người. Nó mang tính giả lập của tâm thức chủ quan, nên không có giá trị chung nhất, cũng không phải là bản thân thực tại; mà thực tại là “như thị”.

Pháp luận lý Bát bất trung đạo này đến thế kỷ XIX mới được các triết gia Tây phương tìm hiểu và biết đến, và được họ tôn xưng là “siêu biện chứng”. Bát bất là tám sự phủ định, gồm bốn cặp và tám điều là: “Sinh - diệt, đoạn - thường, nhất - dị, lai - xuất”. Sở dĩ luận lý này quy định tám điều mà thôi, vì đó là tám hiện tượng tiêu biểu và bao hàm các sự vật hiện tượng. Hễ phủ định cái nọ là khẳng định cái kia theo hai mặt đương đãi của nó. Như nói bất sinh thì rơi vào diệt. Nói bất sinh bất diệt thì cũng mới hiển lộ được một phần. Nói bất thường thì đoạn tự hiện ra. Nói bất thường bất đoạn thì cũng chỉ hiển lộ được một phần, cho nên nhất tự hiện ra. Nói bất nhất thì dị tự hiện ra. Nói bất dị thì lai tự hiện ra. Nói bất lai thì xuất tự hiện ra. Nói bất xuất thì sinh tự hiện ra. Vì vậy cho nên, hành giả phải trực nhận một lúc bằng tuệ quán “Bát bất” thì “trung đạo đệ nhất nghĩa đế” mới hiển lộ. Pháp phủ định này được ngài Long Thọ phát kiến thành một môn luận lý học vĩ đại, nhằm thuyết minh giáo nghĩa “tính không” của Bát nhã.

Có hiểu được luận lý này, chúng ta mới lãnh hội được đại ý đoạn văn: “Hết thảy các pháp không tướng, nên chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt” ở trong bài kinh Tâm Bát nhã này, hay chính thật tại tuệ giác của đấng giác ngộ với chân hiện sinh tuyệt đãi.

Kinh văn dùng từ “bất” hay “vô” để quét sạch một lúc mọi thứ tình chấp của vọng tâm chúng sinh, nhằm làm hiển lộ “thật tướng” của các pháp. Bởi liễu ngộ không tướng (emptiness, voidness) nên mới thấu rõ tâm vô sở đắc: “Do không có sở đắc, nên bậc Bồ tát y theo trí tuệ Bát nhã, nên tâm không bị ngăn ngại”. Nếu những ai hướng đến giải thoát giác ngộ mà có sở đắc, thì đó chính là đắc vọng vậy. Do nhận ra sở đắc chính là vọng, nên các hành giả mới từ giã con đường học giả với những lý luận vô bổ của triết học ngang qua vọng thức, để thể nhập đạo học bằng quán chiếu Bát nhã, hay tham thiền.

Vì vậy cho nên, nếu chỉ thuyết minh suông mà không thực hành quán chiếu Bát nhã, thì chung quy cũng chỉ là người thưởng thức mùi vị của bánh vẽ mà thôi. Tự thân không thể vượt thoát tình chấp của vọng thức, nên không thể tránh khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não; không vượt thoát được dòng Samsāra (luân hồi) bất tận. Đạo học thành tựu bằng quán chiếu Bát nhã, còn triết học Bát nhã thì xây dựng trên nền tảng “bát bất” nhằm giúp hành giả cảm nhận và sống lại với tuệ giác sẵn có của mình.

Như trên đã trình bày, nội dung của giáo nghĩa Bát nhã hàm ẩn trong giáo lý “duyên sinh” do đức Thế tôn truyền dạy.  Do duyên sinh nên nhân vô ngã (nhân không) và pháp cũng vô ngã (pháp không). Nhân và pháp vô ngã là gạch nối đẩy tới giáo nghĩa “tính không”. Giáo nghĩa này đến khoảng thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch thì phát triển mạnh và kết thành văn kinh đầu tiên là Tiểu phẩm Bát nhã, được viết lên lá bối. Đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch, thì giáo nghĩa Bát nhã được triển khai thêm nữa và kết tập thành Đại phẩm Bát nhã.

Vì tầm quan trọng của giáo nghĩa Bát nhã, hay lộ trình mở ra cứu cánh giải thoát giác ngộ, cho nên có rất nhiều nhà dịch thuật lần lượt theo thứ tự thời gian:

1.Ngài Chi Lâu Ca Sấm lần đầu tiên dịch kinh Tiểu phẩm Bát nhã với tên kinh Đạo hành Bát nhã, vào năm 178 sau Dương lịch.

2.Kế đến là ngài Trúc Pháp Hộ và những dịch giả khác dịch Đại phẩm thành Quang tán và Phóng quang Bát nhã, vào giữa thế kỷ thứ ba trở đi.

3.Đầu thế kỷ thứ năm, ngài Cưu Ma La Thập dịch lại với tên là Tiểu phẩm và Đại phẩm Bát nhã.

4.Vào đầu thế kỷ thứ bảy, ngài Huyền Trang đi sang Ấn Độ và đã thu gom tất cả các kinh điển thuộc hệ thống Bát nhã đem về Trung Hoa và dịch thành bộ Đại Bát nhã gồm có 600 quyển, chia ra sáu hội kết tập trong bốn chỗ kể cả trước lẫn sau.

Số kinh trong hệ thống Bát nhã hiện lưu giữ trong Đại tạng chữ Hán là 720 quyển. Tư liệu và triết học Bát nhã triển khai phong phú và rộng lớn như thế, nhưng nếu đúc kết tinh yếu lại thì chỉ có vỏn vẹn trong một bài kinh Tâm Bát nhã gồm 262 từ (theo bản của ngài Huyền Trang). Bản này được dịch lần thứ hai, còn lần đầu là do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Cả hai bản này tương đối sát nghĩa với nguyên bản văn Phạn, ghi bằng thư pháp Tất đàn ở trên lá bối và được bảo tồn ở chùa Pháp Long (Hyryufi) trong thành Nara của Nhật Bản. Hai bản này được gọi là lược bản Bát nhã và được liệt kê theo thứ tự thời gian sau Dương lịch:

Ngài Chi Khiêm dịch vào năm 223. Ngài Cưu Ma La Thập dịch với tên Ma ha Bát nhã ba la mật đại minh chú kinh vào đời Diêu Tần năm 402 – 412. Ngài Huyền Trang phụng chiếu dịch vào năm 649 vào đời Đường với tên Bát nhã ba la mật đa tâm kinh. Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào năm 693. Ngài Từ Hiền dịch vào năm 700.

Trong Đại tạng kinh còn có bản Phật thuyết Bát nhã ba la mật đa tâm kinh do pháp sư Nghĩa Tịnh dịch vào năm 700. Giống như bản dịch của ngài Huyền Trang, trừ phần chú không dịch âm mà ghi bằng chữ Tất đàn và sau đó thêm một đoạn. Ngài Bất Không Kim Cương dịch vào năm 723. Ngài Pháp Nguyệt dịch vào năm 732. Ngài Lợi Ngôn dịch vào năm 790. Ngài Trí Tuệ Luân dịch vào năm 850.

Ngài Pháp Thành dịch vào năm 856. Ngài Thi Hộ dịch vào năm 980. Ở Đôn Hoàng thạch thất bản dịch âm Phạn của ngài Huyền Trang được khắc vào đá tại Chùa Bạch Mã, nơi ngài trụ trì và dịch kinh. Ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam đa số đều đọc tụng bản này. Ngài Huyền Trang khi du hành sang Ấn Độ thỉnh kinh, dọc đường trải qua nhiều gian khổ, nhưng nhờ trì tụng kinh Tâm này mà vượt qua tất cả. Ai nhất tâm trì tụng thì cũng được công đức vô lượng, bởi chính là kinh Tâm vậy.

 

GIẢI THÍCH ĐỀ KINH

 

Tám từ Kinh Tâm Bát nhã ba la mật đa là tên gọi của kinh này. Kinh là dịch âm từ tiếng Phạn Sūtra, dịch nghĩa là “quán xuyến và nhiếp trì”.

Lời dạy của đức Phật giúp cho chúng ta biết cách quán chiếu thân tâm và ngoại tại, để chuyển hóa những nghiệp nhân xấu ác sang tốt lành.

Kinh cũng giúp cho chúng ta biết cách hóa giải vọng tâm, để chân tâm hiển lộ. Kinh mang tính khế cơ và khế lý, tức thích hợp với từng căn cơ chúng sinh và khế hợp chân lý.

Hệ kinh điển mang tính khế cơ được gọi là “Bất liễu nghĩa”. Hệ kinh này giúp cho chúng ta hình thành cho mình một phàm tuệ bằng chánh niệm tỉnh giác, bằng tuệ quán để thấy rõ mọi hoành tung thiện ác, tốt xấu để chuyển hóa thân tâm và ngoại tại, hầu đem lại sự bình ổn, sự tươi mát, an lạc và hạnh phúc cho cuộc sống chung cùng.

Hệ kinh điển mang tính khế lý được gọi là “Liễu nghĩa”. Hệ kinh này giúp cho chúng ta hình thành cho mình một thánh tuệ, tức sống đúng với bản giác sẵn có xưa nay của mình, ngõ hầu mở tung mọi lầm chấp bởi thói quen dựng lập của vọng tưởng. Kinh Tâm Bát nhã ba la mật đa này thuộc hệ liễu nghĩa.

Tâm là tiếng Trung Hoa dịch từ tiếng Phạn Hrdaya (Hy lật đà), hoặc Citta (chất đa). Cái tâm của chúng sinh hữu tình có ý nghĩa bao hàm, nhưng không ngoài tâm vọng và tâm chân. Tâm vọng thì bao hàm hai hệ quả là thiện, ác và vô ký hay trầm không (nằm trong phạm vi 4 cú). Tâm thiện thì tăng ích, tâm ác thì tổn giảm. Vì vậy cho nên, tâm thiện thì đem đến hệ quả tốt nên an vui hạnh phúc. Tâm ác thì đem đến hệ quả xấu, nên sầu, bi, khổ, ưu, não tràn về. Còn tâm chân, cũng gọi là bản tâm hay tự tính, mà tự tính thì “bất nhị”. Đã chẳng hai thì “không thể dùng danh tự để diễn tả, không thể dùng lời nói để luận bàn, không thể dùng tư duy để nhận chân”(4). Vì vậy cho nên, làm hiển lộ chân tâm bằng đạo học, bằng quán chiếu Bát nhã (tham thiền); chứ không bằng con đường của triết học với những khái niệm giả hữu.

Đó là mục đích và tôn chỉ mà kinh này nhắm tới, nhằm giúp hành giả sống lại với cái tâm không còn sai biệt, để phục hồi lại tự tính “bất nhị” xưa nay của mình.

Sáu từ Bát nhã ba la mật đa thì gồm: Bát nhã (Prajñā) và Ba la mật đa (Pāramitā). Bát nhã dịch nghĩa là trí tuệ cứu cánh, nó khác với trí tuệ thế gian. Trí thế gian là do vỏ não phát sóng mà hình thành, tức do sự tác ý bởi căn - trần - thức duyên nhau.

Trí thế gian là sản phẩm giả lập của tâm thức, nên mang tính cục bộ chủ  quan (5), nó không phải là bản thân thực tại (6). Còn trí tuệ Bát nhã là do hành giả trực quán tổng hợp bởi tuệ giác thực tại. Đây là thứ trí tuệ thanh tịnh bản nhiên của chân tâm. Nó vừa rỗng lặng vừa chiếu soi thực tướng các pháp (không chẳng khác sắc), mà không qua trung gian của vọng thức phân biệt (nơi sắc ấy không ở nơi vọng tâm giả lập nên - sắc chẳng khác không). Vì không qua trung gian của biến kế sở chấp (vọng tâm giả lập gán lên thực tại) nên đương thể tức không.

Trong Hoa văn không có từ nào tương đương với từ Bát nhã trong tiếng Phạn, nên về sau các nhà dịch thuật phải tạo từ mới bằng cách ghép thêm từ không vào để xác định thật nghĩa của trí và tuệ. Do đó chúng ta mới có thêm từ trí không hay tuệ không, nhưng cũng vẫn chưa lột hết ý nghĩa hàm ẩn trong từ Bát nhã, nên rốt cùng cũng lại dùng từ Bát nhã của âm Phạn, với những chú giải đính kèm.

Các luận sư tạm chia Bát nhã thành ba phần:

1.Văn tự Bát nhã.

2.Quán chiếu Bát nhã.

3.Thực tướng Bát nhã.

Dùng phương tiện văn tự ghi trong kinh luận, hay dùng lời nói để diễn giải về giáo nghĩa Bát nhã, thì được gọi là văn tự Bát nhã.

Qua trung gian văn tự Bát nhã, giúp chúng ta lãnh hội được thực nghĩa của Bát nhã, rồi quán chiếu thật tướng của các pháp, nhằm làm hiển lộ đương thể tức không, thì được gọi là quán chiếu Bát nhã (tham thiền).

Dụng công quán chiếu đến hồi miên mật, làm phát sinh tỉnh thức nội tại, khi ấy tự tâm xa lìa mọi tư lượng (vọng tâm phân biệt), tâm bỗng nhiên bừng sáng, hòa đồng và trùm khắp (7). Và mỗi khi tỉnh thức nội tại hiện hữu, thì tâm không còn phân ranh ta - người, thị - phi, nội - ngoại bởi tình thức nữa. Khi ấy chân như tự tính hiện bày, nên gọi là thực tướng Bát nhã, hay căn bản Bát nhã. Thực tướng là thể, quán chiếu là dụng, thể dụng bất nhị; bởi trong thực tướng trí vô phân biệt hằng hữu, nên cũng gọi là đại giác.

Ba la mật đa, dịch nghĩa là đến bờ kia (đáo bỉ ngạn), cũng dịch là vượt thoát sinh tử (độ). Sinh tử được ví cho bờ bên này, niết bàn được dụ cho bờ bên kia. Sinh tử là tâm vọng, mà niết bàn là tâm chân. Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta sống trong tâm sinh diệt (Saṃsāra or Sangsāra = Sanskritसंसार). Nay lấy căn bản trí soi tỏ thực tướng các pháp, nhằm giúp tự tâm thoát ly mọi tư lượng, tâm vượt thoát sinh tử. Ở bờ bên này thì mê lầm là nhân, mà phiền não khổ đau là quả. Ở bờ bên kia thì giác ngộ những thứ tình chấp biến dạng liên tục trong tự tâm là nhân (hữu tình), và tâm thoát khỏi mọi buộc ràng của tình thức là quả (giác).

Phiền não hay giải thoát, sinh tử hay niết bàn, chỉ khác nhau ở tâm mê hay tâm giác mà thôi. Tâm siêu việt tư lượng bởi hành thâm Bát nhã, nên gọi là giải thoát (giác). Tâm bị trói buộc bởi tình thức (hữu tình) để trôi dài trong sinh tử nên gọi là luân hồi (Saṃsāra).

Vận dụng giáo nghĩa duyên sinh vô ngã, để chuyển hóa nghiệp ác sang nghiệp thiện, nhân xấu sang nhân tốt, là công việc của Nhị thừa. Dùng tuệ quán: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân đưa đến khổ, đây là sự an vui sau khi chấm dứt khổ, và đây là con đường chuyển hóa khổ sang an vui.” Đề tài tuệ quán ở đây là “Thân - thọ - tâm – pháp” (Tứ niệm xứ). Thực hành 37 phẩm trợ đạo và quán theo hai chiều đương đãi của 12 nhân duyên là công phu quán chiếu của Nhị thừa.

Còn công việc của Đại thừa là hành thâm Bát nhã (tham thiền), nên thành tựu sáu ba la mật. Ba la mật là rốt ráo bởi trí tuệ Bát nhã, nên thực hành một pháp nào rốt ráo, thì những thứ còn lại cũng rốt ráo theo, bởi chỉ có một chân tâm mà thôi. Tâm đã đến bờ kia rốt ráo, tức đạt được trạng thái thanh tịnh bản nhiên của tự tâm, nên cũng được gọi là viên tịch. Viên là giác ngộ tròn đầy, tịch là sự vắng lặng trùm khắp (8).

Bờ kia chính là bờ giác ngộ, nên hành giả vượt lên mười địa của bậc Giác hữu tình (Bồ đề tát đỏa), tức đến thập địa mới chứng được Diệu giác. Tiến trình tu tập từ sơ địa đến địa thứ chín, đòi hỏi hành giả phải thực hành quán chiếu Bát nhã miên mật. Chính nhờ dụng công miên mật (bám sát công phu không gián đoạn), nên tâm mới đạt thành ba la mật. Tâm tự động hóa giải mọi hạt giống chấp thủ, hành giả vượt thoát dòng chảy của tình thức (nghiệp lực), phá tan hầm sâu vô minh, đạt thành tâm giác ngộ viên mãn, thực tướng Bát nhã hiển lộ. Đến đây đã thành tựu lực vô công dụng hạnh, nên mắc xích của năng lực tiềm tại do chấp thủ của mạt na trong A lại da bị đứt rã, chân tâm trùm khắp pháp giới (chánh biến tri).

Chúng ta thử tìm hiểu thêm về chữ tâm, để thấy nó quan trọng đến ngần nào trong việc hướng đến giải thoát giác ngộ của chúng sinh hữu tình.

Tâm gồm có sáu loại như sau:

1.Nhục đoàn tâm (Hán:肉團心):Tức quả tim bằng thịt của chúng sinh hữu tình.

Đứng về mặt sinh lý mà khảo sát, thì máu huyết từ tim mà phát ra khắp châu thân bằng loại máu đỏ để nuôi sống các tế bào, rồi quay về tim bằng loại máu đen để thanh lọc trở lại. Còn loài chúng sinh vô tình thì gọi là xử trung tâm, tức cái lõi cây (nhưng cây rau muống thì gọi là không tâm thảo).

2.Tập khởi tâm (Hán:集起心, phạn: ālayavijñāna): Tất cả các loại hạt giống được huân tập vào tâm chúng sinh hữu tình (tập), để rồi đủ duyên tăng thượng thì biến thành hiện hành (khởi). Tập là sự tích chứa và nối kết liên tục, từ những niệm thiện, bất thiện, hoặc vô ký của niệm trước; rồi phát khởi tương ứng thành những niệm thiện, ác, vô ký của niệm sau tương tục. Trước là tập nhân, sau là khởi quả và nó thông cả ba tính là: Thiện, ác và vô ký. Tâm này theo Duy thức học thì được gọi là Thức A lại da (tàng thức) (9).

3.Tư lượng tâm (Hán:思量心, phạn:manas): Tâm này lấy kiến phần của tàng thức làm sở duyên, tạo tiền đề cho chấp ngã và chấp pháp. Vì năng tư lường nên mới tạo ra tình chấp, nên cũng được gọi là Ý căn, cũng gọi là nhắm mắt chiêm bao (thuộc mộng mơ trong lúc ngủ, hoặc phản xạ trực giác), hay thức Mạt na.

4.Duyên lự tâm (Hán:緣慮心, phạn: manovijñāna): Cũng gọi là lự trí tâm, hay liễu biệt tâm (10). Tác dụng của tâm này là năng duyên, vừa duyên với năm thức trước (tiền ngũ thức), vừa duyên với thức thứ bảy (Mạt na thức) nên mới nhớ được giấc mộng đêm qua, vừa duyên với thức thứ tám (A lại da thức). Đây chính là thức thứ sáu (ý thức), một trong tám thức tâm vương, cũng được gọi là mở mắt chiêm bao, hay công họa sư tâm ý.

5.Kiên thật tâm (Hán:堅實心, phạn:hrdaya): Tức cái tâm thanh tịnh bản nhiên chân thật, chẳng sinh chẳng diệt (lìa 4 cú). Nó cũng được gọi là Tâm như lai tàng (Địa tạng – hay bản tôn), cũng gọi là tâm của tự tính thanh tịnh, cũng gọi là tâm chân như, cũng gọi là tâm thuần nhất (không tạp loạn), cũng gọi là thật tướng phi tướng (chỉ chân như của các Pháp), cũng gọi là kinh tâm Bát nhã.

6.Tích tụ tinh yếu tâm (Hán:精要心): Tâm tích tụ hết thảy yếu nghĩa của kinh. Như kinh tâm Bát nhã gồm 262 từ này là kinh tích tụ hết thảy yếu nghĩa trong 600 quyển thuộc bộ kinh Đại Bát nhã.

Đứng về mặt tâm thức, thì các hiện tượng tâm lý đều phát xuất từ tâm. Vì vậy cho nên trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải dùng tuệ quán để kiểm soát tự tâm, không để cho những tướng tâm bất thiện lộng hành dẫn đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâm được xem là nơi tích tập những hạt giống (thiện, ác, và vô ký), để rồi đủ duyên tăng thượng thì làm cho những hạt giống ấy nẩy mầm, tạo thành chuỗi dài buồn vui lẫn lộn, hoặc rơi vào vô ký, hay trầm không. Tâm cũng là nơi chứa hạt ngọc sáng chói (minh châu), tự chiếu cả ngày đêm nên cũng gọi là tính giác.

Tâm được nói đến trong bài kinh tâm này chính là chân tâm, tức trí tuệ bản nhiên mà chúng sinh hữu tình nào cũng có, cũng gọi là kinh tâm Bát nhã. Kinh tâm Bát nhã cô đọng những giáo nghĩa tinh yếu của kinh Đại Bát nhã, nhằm giúp chúng ta nhận ra chân tâm của mình và sống với. Xin hành giả liễu tri.

Ghi chú:

(1) Đẳng vô gián duyên.

(2)Phi tư lượng tức tọa thiền chi yếu dã: Tâm không (niết bàn) chính là thiền, cũng gọi là tịnh độ vậy.

(3)Tự ngôn tự ngữ trong tâm thức, do vọng thức phân biệt giả lập mà có.

(4)Luận Đại thừa khởi tín do ngài Mã Minh sáng lập.

(5) không có giá trị chung nhất.

(6) nó thuộc vọng thức.

(7) chánh biến tri.

(8) Viên tịch không phải là sự chết.

(9) năng tàng-sở tàng-ngã ái chấp tàng.

(10) nương vào ý căn để nhận rõ pháp cảnh.

 

 LƯỢC GIẢI

 

CHÁNH VĂN

 

1.Bồ tát Quán Tự Tại thực hành thâm sâu Bát nhã ba la mật đa, khi ấy soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt thoát hết thảy khổ đau ách nạn.

I.Giải thích từ ngữ 

1.Bồ tát (菩提薩埵, phạn: Bodhisattva): Bồ tát là phiên âm từ tiếng Phạn Bodhisattva (bô đi sát toa). Dịch nghĩa là Giác hữu tình, nghĩa là giác ngộ những thứ tình thức biến dạng liên tục của vọng tâm, và phát nguyện lớn để rộng độ chúng sinh không mệt mỏi.

2.Quán tự tại (Phạn: अवलोकितेश्वर: Avalokiteśvara): Cũng gọi là Quán thế âm, cũng gọi là tự tính tự độ. Ngài La Thập dịch là Quán Thế  Âm (1). Ngài Pháp Hộ dịch là Quang Thế Âm (2). Ngài Xà Na Quật Đa dịch là Quán Thế Âm (3). Ngài Huyền Trang dịch là Quán Tự Tại. Avalokite ngài Huyền Trang dịch là Quán và teśvara là Tự tại. Quán là làm cho tầm nhìn (năng quán) và đối tượng được nhìn thấy (sở quán) làm một (bất nhị). Ở đây là dùng tuệ không hay trí bát nhã để quán những âm thanh của cõi lòng, làm cho những tự ngôn tự ngữ ấy tan biến. Năng nghe là tánh và sở nghe là tướng; nhưng tướng ở đây là những tiếng nói thầm kín của vọng tâm, hay chính là biến kế sở chấp vậy. Dùng trí bát nhã để quán làm cho năng và sở chẳng hai (bất nhị); nên mới nghe như thật  nghe, thấy như thật thấy, ngửi như thật ngửi, nếm vị như thật vị, xúc chạm như thật xúc chạm v.v.. … Vì dùng tính chân thật của đương thể nên ngài Huyền Trang dịch là Quán Tự Tại. Tự tại khi tiếp xúc với năm thọ uẩn, với mười hai xứ, với mười tám giới, với mười hai nhân duyên, với bốn đế, với trí và đắc, hay tự tại với mọi sự hiện hữu. Đó cũng chính là nghệ thuật vô công dụng hạnh của vị Giác hữu tình (Bodhisattva), nên tâm thực chứng thật tướng mọi pháp hiện hữu. Do thực chứng hiện hữu, nên tâm không dựng lập bởi tình thức mang tính chủ quan, cục bộ và hạn hữu của bộ óc (4). Vị Bồ tát Quán thế âm có một công hạnh đặc biệt gọi là tự tính tự độ bởi nghệ thuật “phản văn, văn tự tính” của mình, nên đạt được nhĩ căn viên thông (tính nghe không ngăn ngại). Còn chúng ta thì nghe qua trung gian của “biến kế sở chấp” do vỏ não phát sóng mà hình thành, nên mang tính cục bộ và chủ quan của vọng thức, làm ngăn ngại (ấm là ngăn che) tính giác bản nhiên. Vì vậy cho nên, không thể nghe được mọi âm thanh đương tại như nó đang là...., mà chỉ nghe tiếng phân biệt của cõi lòng mà thôi (thế âm).

3.Hành thâm: Bản giác tự hành sâu xa vi diệu, nên siêu việt mọi tư lượng. Tâm siêu việt tư lượng chính là dụng chiếu soi của trí Bát nhã.

4.Năm uẩn (五蘊, phạn: pañca-skandha): Uẩn cũng dịch là ấm có nghĩa là ngăn che, cũng dịch là chúng, có nghĩa là chứa nhóm. Năm uẩn là chỉ cho sự tập hợp của thân và tâm, cũng như hiện tượng giới. Năm ấm gồm có hiện tượng vật lý là sắc và bốn hiện tượng tâm lý là thọ, tưởng, hành, thức. Nhưng sắc đơn thuần thì không gọi là sắc uẩn (nên nói quán thân trên thân); mà phải có biến kế sở chấp hình thành trong khi thấy sắc, mới gọi là sắc uẩn.

a.Sắc uẩn (色, phạn:Rũpa-skandha): Gồm có năm căn cộng với năm cảnh trần bên ngoài là: Mắt với đối tượng sắc chất được nhìn thấy, tai với tiếng được nghe, mũi với mùi được ngửi, lưỡi với vị được nếm, thân với đối tượng được xúc chạm; gồm chung mọi sắc loại. Bốn đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và đối tượng của chúng (sắc, thanh, hương, vị, xúc), để hình thành biến kế sở chấp khi tiếp xúc với cảnh trần, thì mới gọi là uẩn hay ấm.

b.Thọ uẩn (受, phạn: vedanã) hay cảm thọ, tức là toàn bộ các cảm giác; được chia ra làm ba loại là: Lạc thọ (thọ vui), khổ thọ (thọ khổ), xả thọ (không khổ không lạc). Khi ý  thức chọn một trong ba cảm thọ này, để hình thành những hình thái tâm lý thuộc nội tâm là thích thú, không thích, hoặc trung tính hay vô ký (xả thọ).

c.Tưởng uẩn (想, phạn: saṃjñā-skandha): Ý thức hình thành ý tưởng ở trong nội tâm. Tưởng uẩn tạo nên những hạt giống (7), để tạo thành dòng sinh mệnh tương tục (samsāra).

d.Hành uẩn (行, phạn: saṃskāra - skandha): Tạo tác và lưu chuyển ở trong nội tâm (hành), là những điều kiện đáp ứng sự nhận biết đối tượng; và đồng thời cũng là những dấu ấn hay những thói quen được tiếp diễn không ngừng của thức (ý chí). Hành uẩn chính là dòng chủng tử để phát sinh hiện hành tương tục. Vì vậy cho nên nó vừa ở quá khứ (tâm hành), vừa hiện hành trong hiện tại đang là (tạo tác và lưu chuyển).

e.Thức uẩn (識, Phạn: vijñāna-skandha): Là thuộc tính hiểu biết, phân biệt mọi sự vật hiện tượng nên cũng gọi là tâm vương; gồm có tám thức tâm vương là: Nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức và a lại da thức.

Thế giới ngoại tại và thế giới nội tại đều do sắc và thọ, tưởng, hành, thức hình thành. Song năm uẩn thì luôn ở trong trạng thái thay đổi không ngừng (vô thường). Những yếu tố tạo nên sắc (vật chất) và cả những yếu tố tạo nên những hành tướng tâm lý cũng vô thường. Thân thì có sinh, già, bệnh, chết. Thế giới ngoại tại thì vật đổi sao dời, không có thứ gì đứng yên một chỗ.

Thế giới nội tâm thì vui, buồn, thương, ghét . v.v biến dạng liên tục. Điều ấy chỉ rõ rằng, năm uẩn mang hai lý tính là vô ngã và vô thường, nên năm uẩn vốn không tự tính, và không thực thể. Loài hữu tình ở cõi dục và cõi sắc đều do năm uẩn hình thành. Loài hữu tình ở cõi vô sắc thì do thọ - tưởng - hành - thức hình thành (8).

5.Giải thoát: (解脫, phạn: mokṣa, vimokṣa, mukti, vimukti): Giải là mở ra mọi sự ràng buộc, mọi sự vướng mắc. Sống trong 3 cõi: Dục - Sắc và Vô sắc mà tâm không bị tham - sân - si chi phối thì gọi là Dục triền giải thoát (9). Đưa tâm thức ra khỏi mọi sự vướng mắc nên gọi là giải thoát. Xả sạch mọi trói buộc của tâm thức, nên được tự tại vô ngại. Đạt đến cảnh giới niết bàn này bằng con đường đạo học, chứ không ở nơi triết học, vì cảnh giới giải thoát thì tâm thức không thể với tới.

II.Tìm hiểu nội dung 

Đoạn văn mở đầu này trực tiếp chỉ rõ sự vô ngã rốt ráo bằng tự tâm xóa sạch mọi chấp thủ ngang qua thực hành thâm sâu quán chiếu Bát nhã. Bởi trí tuệ Bát nhã là thứ trí tuệ bản nhiên trong tâm của chúng ta và cũng được gọi là tính giác, nên từ trong bản chất nó siêu việt mọi tư lượng. Tâm tự vận hành thâm sâu vi diệu, nên thoát khỏi mọi khổ đau ách nạn.

Nhờ “hành thâm Bát nhã” nên mọi thứ tình chấp trong tâm bị đoạn tận, từ tình chấp của phàm phu cho đến tình chấp của hàng nhị thừa và hàng Bồ tát quyền thừa. Vì tình chấp bị đoạn tận, nên không còn bị được mất, hơn thua, khen chê, vinh nhục, danh lợi v.v.. sai sử, chi phối nên gọi là “quán tự tại”. Bồ tát là phiên âm từ tiếng Phạn Bodhisattva (bô đi sat toa). Hoa văn dịch Bodhi nghĩa là giác, và sattva nghĩa là hữu tình. Hữu tình là sự chấp thủ bởi tình thức, mà giác là chân tâm vô trụ. Lìa hết hữu tình thì tính giác hiển lộ, nên gọi là “quán tự tại”. Quán chính là sự phản chiếu của tự tính y như đương tại, chứ không qua trung gian suy lường của vọng thức, nên đức Phật dạy: “Quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp”. Những hành tướng tâm lý (hữu tình) là do vọng thức chấp trước vào năm thụ uẩn mà có (hình thành biến kế sở chấp), nên tạo thành chuỗi dài sinh diệt trong tâm và khổ đau cũng từ đó  hình thành.

Nay hành giả biết thực hành thâm sâu quán chiếu Bát nhã (tham thiền), tức tự tính tự độ nên động cơ tạo thành “chướng phiền não và chướng sở tri” không còn; trí tuệ thanh tịnh bản nhiên hiện hữu, nên “vượt thoát mọi khổ đau ách nạn”. Trí này cũng được gọi là trí không, bởi nó như hư không vô sở hữu, nhưng dung chứa sum la vạn tượng trong ấy; cũng như mặt gương trong suốt nên chiếu soi hết thảy những hiện hữu đang là. Trí này hiện hữu thường nhiên nơi mỗi tâm hồn, mà không một chút vướng mắc nên cũng gọi là bản giác. Những bậc giác ngộ mới dùng được trí bày, nên nói từ tự tính khởi dụng. Còn hàng phàm phu thì do thấy, nghe, hay biết (kiến, văn, giác, tri) tức nghiệp thức điều khiển. Trí bát nhã từ trong bản chất, nó xuất hiện như thế nên không bị mọi đối tượng và hoàn cảnh buộc ràng, nên gọi là quán tự tại. Vì quán tự tại soi suốt thật thể của các pháp, nên gọi là thật tướng Bát nhã. Vì rỗng không, không tự ngã nên mới soi thấy năm uẩn đều không (lìa 4 cú), làm cho vọng tâm dừng bặt, trí tuệ bừng sáng.

Đức Phật dạy: “Ba cõi không ngoài tâm, vạn pháp không ngoài thức”. Vì vậy cho nên, những tướng tâm chấp thủ cũng không ngoài tâm thức mà có. Nay tự tính tự độ, nên tâm thức được mở trói; sự buộc ràng bởi tình thức chấp vào năm uẩn được mở tung. Quán tự tại hay tự tính tự độ, chính là dùng trí Bát nhã chiếu soi mọi hiện tượng, nên mới nghe như thật nghe, thấy như thật thấy.v.v. mà không qua trung gian suy luận bởi “biến kế sở chấp”, nên được tự tại vô ngại.

Quán tự tại là thực hành thiền quán thâm sâu miên mật bằng trí Bát nhã, nên thức chuyển thành trí bởi “sở quán không” (nghi tình), nên “năng quán” thể nhập làm một với tính giác (năng sở song vong). Soi thấy năm uẩn đều không là dụng lực quán chiếu của trí Bát nhã, chứ không phải dùng vọng thức để chối bỏ thực tại. Nếu còn dùng vọng thức để chối bỏ thực tại, tức tâm thức rơi vào kiến lập không (dẫn đến sự tiêu cực và nhàm chán thế gian, không sẽ trở thành tà kiến, chấp không nhân quả sẽ đồng nghĩa với ngoại đạo), nên vẫn còn rơi vào tư duy hữu ngã vậy.

Nói soi thấy là tự mình trực tiếp thấy rõ, nhận rõ như người uống nước, biết rõ trực tiếp nước ấy lạnh hay nóng, mà không qua trung gian của bất cứ suy nghĩ nào, bất cứ khái niệm giả lập nào.

Ngũ uẩn là năm yếu tố để tạo thành sinh mạng. Từ uẩn là do ngài Huyền Trang dịch từ chữ skandha (kiền độ). Còn ngài Cưu Ma La Thập thì dịch là ấm, nghĩa là che phủ. Các dịch giả trước nữa dịch là chúng, nghĩa là tập hợp nhiều yếu tố lại mà hình thành (10). Con người cũng không ngoài năm uẩn mà có.

Ở hệ kinh Nikāya đã trịnh trọng tuyên bố tính chất vô ngã của năm uẩn này rồi. Nay giáo nghĩa Bát nhã của Phật giáo Đại thừa chỉ xác định lại tính chất vô ngã ấy mà thôi.

Thân tâm là hợp thể bởi năm uẩn nên nhân không thật thể và pháp đều không thật thể, tức danh và sắc không. Cả nhân lẫn pháp đều không, là nội dung trọng tâm của giáo nghĩa Bát nhã ngang qua thực chứng, chứ không phải ở trên bình diện nhận thức. Không tự tánh, không thật thể, không cố định nên không đem vọng thức chấp thủ nó là gì, hay không gì, nên nói “đương thể tức không” với tuệ quán thể đồng nhất. Còn uẩn hay ấm là do vọng thức giả lập mà thành, nên nói “đối cảnh sanh tình”.

Năm uẩn như phần giải thích từ ngữ đã nói rõ, nay chỉ phân tích thêm mà thôi.

1.*Sắc: (色): Gồm có năm căn cộng với năm cảnh trần bên ngoài là: Mắt với đối tượng sắc chất được nhìn thấy, tai với tiếng được nghe, mũi với mùi được ngửi, lưỡi với vị được nếm, thân với đối tượng được xúc chạm, gồm chung mọi sắc loại. Bốn đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và đối tượng của chúng (sắc, thanh, hương, vị, xúc). Năm căn hai nội sắc thì gồm có hai phần:

-Phù trần căn, gồm: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.

-Tịnh sắc căn, tức hệ thần kinh tương ứng gồm: Trung khu thần kinh tức bộ nảo và tủy sống cộng với bộ phận ngoại biên gồm có các dây thần kinh và hạch thần kinh. Hệ thần kinh thị giác, hệ thần kinh thính giác, hệ thần kinh khứu giác, hệ thần kinh vị giác, hệ thần kinh xúc giác. Những sắc chất này là thật sắc (paramattha), nên ở kinh Bốn niệm xứ, đức Phật dạy: “Quán thân trên thân” tức cảm nhận sắc thân như thật bởi tuệ giác thật tại, thì sắc này không phải là sắc uẩn, hay sắc ấm.

*Sắc uẩn (色, phạn:Rũpa-skandha) -

Những yếu tố vật lý tự nó chưa đủ để tạo nên sự nhận biết (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,... sắc, thanh, hương, vị, xúc), nếu không có ý thức phân biệt cộng tác vào. Tại tai thì nghe, tại mắt thì thấy, tại mũi ngửa mùi, tại lưỡi nếm vị, tại thân xúc chạm vô hạn định, và tiếp xúc với cảnh trần một cách trực tiếp (5), nên nói sắc như chân như thật (paramattha).

Chỉ khi nào ý thức can dự vào, thì sự phân biệt ấy mới quy về tâm phân biệt chủ quan. Đó chính là công việc của giác quan thứ sáu, tức ý thức cộng với mười đối tượng tương ứng (năm căn + năm trần) để hình thành tự ngôn tự ngữ (thế âm) trong tâm (pháp), nên gọi là uẩn hay ấm che mất trí tuệ Bát nhã vậy.

Trong kinh Nikāya đức Phật dạy: "Sắc tập khởi là sắc uẩn, thọ tập khởi là thọ uẩn, tưởng tập khởi là tưởng uẩn, hành tập khởi là hành uẩn, thức tập khởi là thức uẩn. Hãy như thật liễu tri sắc tập khởi và sắc đoạn diệt. Hãy như thật liễu tri thọ tập khởi và thọ đoạn diệt... thức tập khởi và thức đoạn diệt".

Nói cách khác, nếu sắc được như thật liễu tri thì sắc ấy là sắc của thế giới vật lý khách quan, như chơn như thực (paramattha). Đây chính là sắc khi chưa tập khởi; mà tập và khởi là do ý thức phân biệt tạo thành biến kế sở chấp, mới có uẩn (giả chúng duyên nhi sinh nhi viết chúng sinh - đó là vọng tưởng). Sắc tập khởi là sắc được hình thành bởi thế giới khái niệm (paññatti), tức là đã được chế biến qua tư tưởng, tình cảm chủ quan của từng người, từng cộng đồng dân tộc (tâm thức cá nhân và tâm thức cộng đồng: nào là cốc, tách, ly, chum, cup…), cho nên sắc khái niệm này chồng lên sắc khách quan kia mà tạo nên uẩn. Cái tập khởi, cái ngăn che (đối cảnh sanh tình) này tạo nên dây mơ rễ má cho dòng vọng tâm sanh diệt không cùng tận, và che lấp tánh giác.

Còn cái sắc vật lý tự nó sinh diệt theo định luật tự nhiên bởi “Thành, trụ, hoại, không” với hai lý tính là “vô thường và vô ngã”. Chính cái sắc tập khởi do chúng ta tự giả lập rồi chồng lên sắc khách quan, thì sắc ấy mới bị hành (saṅkhāra) chi phối, mới tạo ra chấp ngã và chấp pháp, nên mới đưa đến khổ đau (khổ đau do tâm tạo là vậy).

Ý thức kết hợp với năm giác quan bên ngoài là mắt , tai, mũi, lưỡi, thân (phù trần căn), cộng với hệ thần kinh tương ứng bên trong bộ óc (tịnh sắc căn hình thành sự phát sóng của vỏ não), khi ấy tâm phân biệt mới hiện hữu; nên nói sự chứa nhóm (uẩn), hay ngăn che (ấm) mất tánh giác vậy.

Năm giác quan trước (tiền ngũ thức) là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân đều có trần cảnh tương ứng làm đối tượng phát sinh phân biệt, thì thức thứ sáu cũng có đối tượng của nó là những tự ngôn tự ngữ trong tâm (pháp) để hình thành sự phân biệt. Ý thức biến đổi những yếu tố tâm - vật lý khách quan thành những yếu tố tâm lý chủ quan (uẩn - ấm), tạo nên bốn yếu tố nội tâm là thọ uẩn - tưởng uẩn – hành uẩn – và thức uẩn. Sự phân biệt này hoàn toàn mang tính chủ quan của vỏ não, nên không có giá trị chung nhất (mỗi bộ óc của mỗi người đều có mỗi cảm nghĩ riêng), cũng không phải là bản sao thực tại (vì thực tại khách quan không dính gì đến tâm lý chủ quan).

Dùng tuệ quán trực chứng được điều này, nên Ngài Linh Hựu nói: “Phải biết rõ rằng, hết thảy các pháp trong ngoài đều không thật thể; từ tâm biến hiện, tức là giả danh”(6) (cốc, tách, ly, cup gì gì đều là giả danh hết). Vì vậy cho nên, vô minh càng nhiều thì ngã chấp càng lắm, và khổ đau cũng tương ứng tràn về (khổ đau do tâm tạo là vậy).

2.Thọ uẩn: Là những cảm thọ của tâm - sinh lý, bao gồm: Thọ khổ, thọ lạc, thọ không khổ không lạc hay vô ký (trung tính). Thọ cũng vậy, nếu chỉ thọ đơn thuần như cảm giác đang là (trực giác), thì chưa thể gọi là thọ uẩn; mà là thọ trên thọ trong ý nghĩa của kinh Bốn niệm xứ.  Thọ tập khởi là thọ được hình thành bởi thế giới khái niệm (paññatti), tức là đã được chế biến qua tư tưởng, cảm thọ chủ quan thì mới gọi là thọ uẩn. Thọ khổ là những cảm nhận của tâm lý không thích thú; còn thọ lạc là những cảm nhận tâm lý thích thú nên muốn nắm giữ. Vì vậy cho nên, mới hình thành hai tâm lý là tham và ưu. Thọ vô ký hay trung tính là trạng thái tâm lý dửng dưng.
3.Tưởng uẩn (Saññākkhanhdha): Tưởng uẩn hay tri giác là những tư duy thuộc tâm lý của con người mà loài khác không có, hoặc có ở dạng thấp hơn. Đức Phật ví tưởng hay tri giác như ảo ảnh, một hiện tượng tâm lý không thật nhưng hiện ra giống như thật. Vì vậy, trong kinh Kim Cương đức Phật dạy: “Hết thảy pháp hữu vi thì như giấc mộng huyễn hóa, như bọt nước, như sương mai, như điện chớp; nên quán sát như vậy”.

4.Hành uẩn: Là những tâm lý có tính cách bản năng và ý chí, hay những năng lực tiềm tại của chúng hữu tình (nghiệp lực). Hành là dấu vết của nghiệp cũ được mang theo trong các sinh hoạt hạ đẳng và cao cấp ở nơi con người. Đó cũng chính là những ý chí mù quáng, do dòng năng lực tiềm tại tự vận hành. Vì vậy cho nên, nó đóng vai trò quyết định trong suốt một đời người. Vì dòng tương tục nên hành uẩn vừa ở dạng quá khứ, vừa tiếp diễn trong hiện tại (vừa ở dạng nhân, vừa ở dạng quả).

5.Thức uẩn: Là những tri giác tạo thành dòng phân biệt, bao gồm kiến thức trong việc cảm nhận thế giới nội tại và thế giới ngoại tại, tức thân tâm con người và môi trường sống.

Trong năm uẩn thì sắc uẩn thuộc về hiện tượng tâm - vật lý, còn thọ - tưởng - hành - thức thuộc hiện tượng tâm lý. Tâm - vật lý hòa hợp tạo nên con người (vô ngã), nên được gọi là năm uẩn hay năm ấm.

Trong năm uẩn này, các thần giáo và triết học Bà la môn thì cho rằng có một thần ngã (Atman) ngự trị ở bên trong và bất di bất dịch, hoặc thần ngã (thượng đế, mệnh trời) ngự trị bên ngoài chi phối tất cả và cũng bất di bất dịch, chứ không chịu sự chi phối của định luật vô ngã và vô thường như Phật dạy.

Trên thực tế thì không có cái gì từ cái một mà có ra, cũng không có cái gì đứng yên một chỗ, và cũng không có cái gì tự bản thân nó bất di bất dịch (thần ngã hay thương đế)  mà tạo ra những cái khác được.

Phật giáo vốn xây dựng trên sự thật của mọi sự vật hiện tượng bởi lý nhân duyên sinh, nên không chấp nhận cái lý “thần ngã bên trong hay thần ngã bên ngoài” ấy. Vì vậy cho nên, kinh văn chỉ rõ năm uẩn đều không có tự tính là lẽ thật của mọi hiện tượng tâm lý và vật lý; tức đề cập đến lý tính: “nhân vô ngã” và “pháp vô ngã”. Chính lý tính “nhân - pháp” vô ngã này tạo nền móng cho giáo nghĩa tính không của Bát nhã.

Với giáo nghĩa tính không, cũng chỉ rõ định luật “pháp giới trùng trùng duyên khởi” của giáo nghĩa Hoa Nghiêm được triển khai đến vô cùng. Một thật thể sống động bao hàm bởi “pháp giới thông hóa”. Bản thân nó là thật thể tự hành, nên mọi khái niệm giả lập của tâm thức con người không thể với tới. Vì vậy cho nên, đạt thành trí giác vô thượng bằng bản chứng tự tâm, chứ không qua tư duy (thuộc vọng thức) do sự phát sóng của vỏ não mang tính chủ quan của từng bộ óc, để rồi hình thành nền triết học mang tính duy lý.

Quán tự tại (hay Quán Thế Âm) là tên riêng của vị Bồ tát này, mà đồng thời cũng là pháp quán chiếu mà vị này thể hiện. Vừa là tên vừa là pháp, vừa là tự tính tự độ của bậc Giác hữu tình. Tên ấy theo công hạnh mà đặt, và đồng thời cũng là hình dung hóa diệu dụng của tự tính tự độ nơi mỗi tâm hồn mà ai cũng có.

Bồ tát quán thế âm (Avalokites’vara): Là vị Bồ tát được tôn thờ phổ biến ở phương đông. Với công hạnh của ngài là quán chiếu (Avalokita) những tiếng nói  thầm kín của vọng  tâm, làm cho những khổ đau trong tâm tan biến,  nên hạnh của ngài là cứu khổ và ban vui (từ bi). Tiếng kêu đau khổ trong thế giới Ta bà này chính là tiếng của cõi lòng. Vì vậy cho nên, sự cứu độ của ngài bằng nghệ thuật “phản văn, văn tự tánh”, hay tự tánh tự độ, tức không chạy theo tự ngôn tự ngữ của cõi lòng đau khổ, mà nghe lại tự tính thanh tịnh bản nhiên của mình (isvara) nên những tự ngôn tự ngữ (sở văn) đi vào không tịch. “Năng sở song vong” (11) nên tánh giác hiện hữu, chấm dứt dòng sinh diệt (samsāra), và khổ đau ách nạn tự trừ. Đó chính là sự cứu khổ ban vui tuyệt đãi (12). Vì vậy cho nên, niết bàn chính là tâm khổ đau đoạn tận, tâm an lạc tuyệt đãi hiện bày (cực lạc). Do công hạnh ấy, nên trong dân gian có câu:

Nước trong thì có bóng trăng

Tâm thanh ý tịnh Quán Âm hiện hình.

Khổ ách gồm có ba loại:

1.Khổ ách do tự thân tâm tạo ra như: Sinh là khổ, già là khổ, do dùng những độc tố như xì ke ma túy, thuốc lá, thực phẩm có pha chế hóa chất, rượu .v. v. .tạo nên tật bệnh là khổ, chết là khổ, mong cầu mà không toại ý là khổ, giận hờn oán ghét nhau mà cùng sống bên nhau là khổ, thương yêu nhau mà lại xa lìa là khổ, thân là hợp thể năm ấm tăng giảm bất thường làm đau đầu sổ mũi .v.v.. là khổ.

2.Khổ ách do thiên nhiên mang lại như: Bão lụt, hạn hán, hỏa hoạn, động đất, sóng thần. v. v.

3.Khổ ách do xã hội tạo ra như: Giai cấp xung đột, tôn giáo bất hòa, chế độ hà khắc, chiến tranh xâm lược, huynh đệ tương tàn.v.v…Vì vậy cho nên, nếu chưa thật sự xả kỷ, thì phải canh chừng: Hễ ở đâu có của cải vật chất, có tiền tài danh vọng và địa vị thì ở đó sẽ có sự tranh chấp diễn ra, và người ta rất dễ dàng đánh mất nhân tính !

Những khổ ách này đều chi phối tâm thức con người bởi động cơ chấp ngã và chấp pháp mà ra. Nay vận dụng tuệ quán Bát nhã nên soi thấy năm uẩn đều không, thì tự tâm giải trừ mọi vọng tưởng, nên tâm phan duyên đều dứt bặt. Nhị biên đoạn tận, tâm chứng thật tướng Bát nhã nên được tự tại vô ngại trước mọi hoàn cảnh, vượt thoát mọi khổ ách.

Lời mở đầu này bao hàm nội dung của giáo nghĩa Bát nhã. Trong những phần sau chỉ  làm công việc trình bày thêm nội dung toàn văn Bát nhã về hai phạm trù là đạo học và triết học mà thôi.

Chúng ta có thể nói rằng, nếu toàn văn kinh Tâm Bát nhã gồm có 262 từ mà thể hiện trọn vẹn tinh yếu thật nghĩa của hệ thống giáo nghĩa Đại Bát nhã gồm có 600 quyển; thì đoạn mở đầu gồm 25 từ này lại một lần nữa cô đọng tinh yếu giáo nghĩa Bát nhã đến ngần nào.

Ghi chú:

(1).Đại Chính 9, tr 56.

(2). Đại Chính 9, tr 128.

(3). Đại Chính 9, tr191.

(4). đương thể tức không.

(5). trực thức vô trạch.

(6).内外諸法盡知不實。從心變起悉是假名。Nội ngoại chư pháp tận tri bất thật, tùng tâm biến khởi, tức thị giả danh.(Văn Cảnh sách của ngài Linh Hựu).

(7).những tự ngôn tự ngữ trong tâm.

(8). thuộc thế giới tâm thức.

(9). triền là sợi dây trói buộc.

(10). giả chúng duyên nhi sinh.

(11).Năng quán và sở quán đều mất, trí bát nhã hiện bày.

(12).Lìa khỏi đối đãi hai bên.

CHÁNH VĂN

 

2.Này Xá lợi phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

I.Giải thích từ ngữ 

1.Xá lợi phất: Xá Lợi là tên riêng của bà Xá Lợi, còn phất là con nên dịch sang Hoa văn là tử. Lấy tên của mẹ rồi ghép chữ con vào để gọi tên con của bà Xá Lợi. Xá Lợi phất là phiên âm từ tiếng Phạn Sãriputra.

2.Không: Là dịch nghĩa từ tiếng Phạn Śūnyatā. Không là lý tính năng sinh động bao hàm mọi sự vật hiện tượng, chứ không phải “không đối với có”. Mọi sự vật hiện tượng vì Tính không nên mang lý tính vô thường và vô ngã; bao hàm nhân không và pháp không, nên cũng mang lý tính “bất nhị” tuyệt đãi. Bản tính các pháp vốn không tịch, nên chẳng sinh chẳng diệt; vì vậy KHÔNG đồng nghĩa với niết bàn.

Theo sự khảo sát của các nhà khoa học vật lý nguyên tử, thì mỗi hạt căn bản điện tử (quark) trong từng giây nó vừa ở dạng hạt vừa ở dạng sóng năng lượng. Vì vậy cho nên, không có hiện tượng nào có tự thể bất di bất dịch; mà đều bị luật vô ngã và vô thường chi phối, nên nó đi từ dạng này đến dạng khác cho đến vô cùng. Sắc không bất nhị, tức hạt và sóng chẳng hai, nên mọi khái niệm giả lập của tâm thức không thể diễn tả đúng thật tại đang là; nên đến đây “ngôn ngữ chấm dứt, tâm hành xứ diệt” nên niết bàn hiển lộ.

II.Tìm hiểu nội dung 

Xá Lợi là tên bà mẹ, còn phất nghĩa là con. Lấy tên mẹ ghép với từ con để gọi tên thầy Xá lợi phất, cũng là phiên âm từ Phạn ngữ Sãriputra.

Thầy Xá lợi phất là đệ tử dẫn đầu về trí tuệ của đức Phật, nên được đức Phật chia cho nửa tòa. Vì vậy cho nên, khi nói đến trí tuệ Bát nhã thì thầy Xá lợi phất được đức Phật gọi mà dạy là điều tất yếu.

Như đoạn trước chúng ta đã tìm hiểu về ý nghĩa của năm uẩn. Sắc uẩn là vật chất thuộc sắc pháp, còn lại bốn uẩn là thọ, tưởng, hành, thức thì thuộc tâm pháp. Tâm pháp thuộc hiện tượng tâm lý, vô hình trung nên không sờ mó được và bản thân nó biến dạng liên tục, nên không có thật thể là điều dễ hiểu. Còn sắc pháp thuộc hiện tượng vật lý, tự nó có sắc chất và lấy sắc chất làm thể (hình tướng), thì sao lại không có thật thể được? Vì vậy cho nên, đoạn kinh này phải lý giải về năm uẩn là tại sao không có thật thể.

Trước hết là nói về sắc uẩn, tức vật chất. Theo sự khảo sát của các nhà khoa học vật lý nguyên tử, thì mỗi đơn vị lân hư trần (1) trong thời gian một giây nó vừa ở dạng hạt vừa ở dạng sóng năng lượng (sát na sinh diệt), vì bị chi phối bởi hai lý tính vô thường và vô ngã. Vì vậy cho nên, mọi sự vật hiện tượng đều tương thuộc lẫn nhau mà hiện khởi; nên chẳng có hiện tượng nào từ cái một (thượng đế) mà có ra.

Hạt sóng chẳng hai (bất nhị), tức “sắc không bất nhị”, cho nên không này không phải là không đối với có; mà là “đương thể tức không” trong cái “sắc - không chẳng hai” ấy. Vì vậy kinh nói “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc”. Sắc và không, không thể đứng độc lập mà hiện khởi.

Còn lại bốn uẩn kia cũng đều như vậy, nghĩa là: Thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng khác không; cũng nằm trong lý tính bất nhị. Nhân không và pháp cũng không, tức cũng bất nhị.

Ngã pháp đều không là nội dung cốt lõi của giáo nghĩa Đại thừa, và đồng thời cũng chỉ ra chân lý bao hàm và sống động của sự vật hiện tượng. Muôn pháp được tựu thành bởi tính không. Vì muôn pháp tính không, nên tâm vô sở hữu. Bởi nếu có sở hữu thì sở hữu ấy cũng chỉ là sự lạm nhận của tình thức ngang qua “biến kế sở chấp” của vọng thức mà thôi; chứ không phải bản thân thật tại. Vì vậy cho nên, bản thân thật tại không thể nắm giữ, mà có nắm giữ chăng thì chẳng qua chỉ là nắm giữ những dòng tâm thức giả hữu mang tính chủ quan mà thôi.

Chính cái tình thức “ta” và “của ta” ấy đã đánh lừa và che mất trí tuệ, làm cho chúng ta đau khổ. Khổ đau là do chúng ta cố ôm giữ cái bóng (vọng thức) như nắm bắt một làn hương mà thôi. Khổ đau do tâm tạo là vậy!

Vì vậy cho nên, mọi vọng tâm phân biệt đều không ở nơi thật tại, mà thật tại là “như thị”, nên nhị biên đều dứt tuyệt, trí Bát nhã mới hiện bày.

Bản thân trí Bát nhã và thật tại đều “bất nhị” nên được mệnh danh là “Tuệ quán thể đồng nhất” bởi “pháp giới thông hóa” mà đức Phật đã dạy trong kinh Kim Cương. Đến đây đức Phật chỉ ra “tâm hiện sinh tuyệt đãi”, bởi tuệ giác thật tại vốn phi thời gian và không gian.

 

Ghi chú:

 

(1).Lân hư trần: Hạt bụi láng giềng với hư không, gần biến thành hư không tức sóng năng lượng.

 

CHÁNH VĂN

 

3.Này Xá Lợi tử ! Các pháp không tướng, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Bởi vậy trong KHÔNG: không sắc không thọ, không tưởng, hành, thức. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không có tầm nhìn hạn cuộc của chính nhãn thức. Cho đến không có phân biệt hạn cuộc của chính ý thức.

Không vô minh, cũng không có sự chấm dứt vô minh. Cho đến không già chết, cũng không hết già chết.

Không khổ, tập, diệt, đạo. Không trí cũng không đắc. Do không có sở đắc, Bồ tát nương theo Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không ngăn ngại. Bởi tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi, lìa hẳn điên đảo mộng tưởng, rốt ráo niết bàn.

 

I.Giải thích từ ngữ

 

1.Không: Như đã giải thích ở trên. Không tướng là chỉ cho thật tính của các pháp, nên tự thân nó xa lìa mọi vọng tâm tư lượng.

 

II.Tìm hiểu nội dung

 

Ở đoạn trên đức Phật đã chỉ rõ là “sắc và không chẳng hai” nên xa lìa tự tâm tư lượng. Bởi mọi suy nghĩ phân biệt không thể dùng được ở đây, nên “biến kế sở chấp của vọng thức” bị đoạn tận. Tự tâm xa lìa tứ cú “có - không, cũng có - cũng không, không có - không không”, tức không ở nơi vọng thức bởi biến kế sở chấp. Vì vậy cho nên, trong phẩm Kim Cang bát nhã, đức Phật nói: “Mọi tướng sở hữu của tâm thức đều là hư vọng. Bằng thấy các tướng đương tại mà không có tướng giả lập của tâm thức xen vào, thì thấy như thật thấy” (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai).

Bởi sử dụng thật tại tuệ giác nên thấy như thật thấy, nghe như thật nghe, ngửi như thật ngửi .v.v. . mà không bị vọng tâm đánh lừa bởi tâm chấp thủ lập trước vật. Vì không lập trước vật nên vượt bỏ căn - trần - thức (1), vượt bỏ mười hai nhân duyên, vượt bỏ bốn đế, vượt bỏ trí và đắc, xa lìa tự tâm tư lượng (2) nên lìa hẳn điên đảo (3) lìa hẳn mộng tưởng (4), niết bàn tự tính hiển lộ (5).

Xuất phát từ nguyên lý “bất nhị” ở trên, nên kinh văn trình bày cho chúng ta cái trình tự là làm sao đạt được nguyên lý “bất nhị” ấy bằng cái chổi “vô” tự động để quét sạch một lúc năm thứ kiến lập của vọng tâm. Luận lý trình bày ở đây là “Bát bất trung đạo”(6), nhằm làm hiển lộ thật tại “như thị” của các pháp. Dùng phủ định triệt để, nhằm giúp tâm thức vượt ra khỏi mọi cặp phạm trù đối đãi hai bên; nên sự phủ định này vượt ngoài phủ định và khẳng định thuộc tri kiến chúng sinh (7), nhằm mở ra tri kiến Phật.

Do mọi sự vật hiện tượng đều mang lý tính vô ngã và vô thường, nên không thể đem vọng thức ra để khẳng định là gì, cũng không thể phủ định không gì. Bản thân thật tại cũng không ở nơi vọng thức chủ quan, nên lìa hẳn mọi khẳng định và phủ định của tâm thức, để cho tâm thể nhập làm một với thật tại bằng trí Bát nhã.

Thể nhập chân như bằng tám lần phủ định tự tâm, nên thành tựu “Trung đạo đệ nhất nghĩa đế”. Vì vậy cho nên, dưới tuệ giác “bất nhị” của Đại thừa thì “phiền não tức bồ đề, Ta bà tức Tịnh độ”.

Còn theo giáo nghĩa nhị thừa thì được lập trên mặt tướng tâm - vật lý (hiện tượng), và được ghi chép đầy đủ trong hệ A hàm, chia làm ba phạm trù:

1.Năm uẩn: Những yếu tố hợp thành con người.

2.12 xứ: Những yếu tố trung gian giữa con người và ngoại giới.

3.18 giới: Những yếu tố riêng trong toàn bộ sinh hoạt chung của con người.

Cứu cánh mà con người phải đạt được là trí. Trí quán chiếu để thấy đây là khổ, đây là những nguyên nhân đưa đến khổ, đây là phương pháp diệt khổ, và đây là an lạc sau khi chấm dứt khổ.

Giáo Pháp được lập ra để đối trị bệnh của thân và tâm là bốn đế (Tứ diệu đế) với tầm nhận thức ngang qua duyên khởi (trên mặt hiện tượng) và triển khai thành mười hai nhân duyên.

Giáo nghĩa mười hai nhân duyên được hình thành theo trình tự: Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh và già chết.

Giáo lý nhị thừa được hình thành bằng quán chiếu năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, mười hai nhân duyên, bốn đế, trí và đắc là căn cứ trên mặt hiện tượng: thân, thọ, tâm, pháp. Căn cứ vào  bốn đề tài quán niệm (Tứ niệm xứ) mà hình thành 37 phẩm trợ đạo để giải trừ và chuyển hóa những nghiệp nhân xấu ác sang tốt lành.

Còn giáo lý Bát nhã thì dùng luận lý “bát bất” nhằm phủ định tất cả những giả hữu của tâm thức, để hiển lộ nguyên lý ngã - pháp đều không một cách triệt để, nhằm mở ra tri kiến Phật. Vì vậy cho nên, đoạn kinh này chỉ rõ năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, mười hai nhân duyên, bốn đế, trí và đắc đều là giả hữu để chỉ ra rằng: Ngã và pháp đều là vô thường và vô ngã nên sự chấp thủ ngã và pháp ấy cũng chỉ là giả lập của tâm thức mà thôi. Phương tiện dùng pháp giả lập để giải trừ động cơ chấp ngã trong tự tâm là phương tiện của nhị thừa.

Còn dưới tuệ giác tuyệt đãi của Phật thì ngã và pháp đều không, nên cái trí ấy cũng không và sự chứng đắc cũng không (vô trí diệc vô đắc). Kinh văn dùng “vô” để một lúc quét sạch mọi thứ tình chấp của tự tâm, nên nhị biên dứt tuyệt, rốt ráo niết bàn. Đó là công việc của đạo học ngang qua quán chiếu Bát nhã, chứ không phải là con đường của triết học với những khái niệm giả hữu.

Vì tự tâm không tướng, nên mới tiếp xúc được với thực tại đang là bằng tuệ giác, tức mở ra tri kiến Phật. Chính nhờ công phu quán chiếu Bát nhã đến “vô sở đắc” nên tâm đạt thành “vô quái ngại”. Từ trước đến nay tâm bị tình thức chấp ngã và chấp pháp khống chế, dụ như chim bị nhốt trong lồng (quái), nên đủ mọi lo âu sợ hãi và bị ngăn ngại mọi phía (ngại). Đầu mối của sự ngăn ngại là cái màn nghi (nghi cái) chụp lên tâm thức nên không cựa quậy được. Vì vậy cho nên, lòng luôn sợ hãi bởi công họa sư tâm ý, với những dòng vọng tưởng miên man bất tận.

Điên đảo hay mở mắt chiêm bao (ngày tơ tưởng) chính là công việc của ý thức phân biệt tư lự. Còn mộng tưởng hay nhắm mắt chiêm bao (đêm mộng mơ) chính là công việc chấp ngã vi tế của thức Mạt na. Vì vậy cho nên, coi thử chúng ta có hành thâm Bát nhã hay không, tức trong tâm đã sạch hết màn nghi chưa? Trong tâm còn tham dục không? Có còn sợ hãi không? Tâm hành thâm Bát nhã nên đạt thành “Vô sở đắc, vô sở cầu và vô sở úy”.

Bồ tát quán tự tại nhờ hành thâm Bát nhã, nên từ địa thứ tám (bát địa bồ tát) vượt lên địa thứ mười, khi ấy mới soi thấy năm uẩn đều không, tình thức đoạn tận, trí giác hiện bày. Do vậy nên không còn gì chướng ngại tâm, vượt thoát vòng nghi mà từ trước đến nay mình bị giam hãm trong ấy. Đến địa thứ tám (bát địa) thì tự tâm hóa giải mọi vọng tưởng bằng lực “vô công dụng hạnh”, tạo thành lực chuyển y phá tan hầm sâu vô minh, đạt thành Diệu giác (thập địa), tức mở ra tri kiến Phật.

Sau khi giải tỏa được dòng nghi rồi thì tình thức mới bị đoạn tận, tâm trở nên như như bất động nên không còn sợ hãi, đạt được vô úy. Vọng tình từ đây tan biến, cơn ác mộng điên đảo ngàn đời từ đây đi vào tịch diệt, nên đức Phật xác quyết: “sinh đã tận, lậu đã tận, gánh nặng đã để xuống, những việc nên làm đã làm xong, từ nay không còn trở lại sinh tử nữa”. Bản tâm tịch chiếu hiện bày, thấu rõ thật tướng các pháp, hành giả thong dong thỏng tay vào chợ, tùy duyên hóa độ chúng hữu tình.

 

Ghi chú:

 

(1).18 giới phân biệt.

(2). phi tư lượng

(3).mở mắt chiêm bao, sự thêu dệt của ý thức.

(4).nhắm mắt chiêm bao, sự chấp thủ hạt giống của mạt na.

(5).cứu cánh niết bàn.

(6). Do ngài Long Thọ phát kiến, nhằm phủ định triệt để mọi thứ giả lập của vọng thức.

(7).Tri kiến chúng sinh, mượn nhiều yếu tố để hình thành những tự ngôn tự ngữ trong tâm; vọng tâm.

 

˜]™

 

CHÁNH VĂN

 

4.Chư Phật ở trong ba đời đều nương Bát nhã ba la mật đa, nên chứng đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

Nên biết Bát nhã ba la mật đa là chú thần lớn, là chú sáng lớn, là chú không trên, là chú không gì sánh bằng. Nó có năng lực trừ hết thảy khổ, chân thật không hư dối. Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa.

Liền nói chú rằng: Ga tê ga tê, pa ra ga tê, pa ra săm ga tê, bô đi soa ha.

I.Giải thích từ ngữ

1.A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Anuttarā-samyak-saṃbodhi): Là ghi âm từ tiếng Phạn Anuttarā - samyak - saṃbodhi. Dịch sang Hoa văn: A là vô, nuttarā dịch là thượng, saṃ dịch là chánh, yak dịch là đẳng, saṃ là chánh, bodhi dịch là giác. Chỉ sự giác ngộ tột cùng của đức Phật, nên không gì so sánh được.

2.Đại thần chú: Chú thần lớn, cũng gọi là đà - la - ni. Thần chú là lời bí mật xuất phát từ Ấn độ giáo, được Phật giáo phát triển đưa vào để giúp cho hành giả gom đa niệm về nhất niệm (1). Nhưng ở đây là chỉ cho trí tuệ Bát nhã có sức mạnh giải trừ vọng tâm.

3.Đại minh chú: Chú giúp cho tâm đạt được ánh sáng lớn, nhằm xóa sạch vô minh.

4.Vô thượng chú: Chú giúp cho tâm hiển lộ tính giác tuyệt đãi.

5.Vô đẳng đẳng chú: Chú giúp cho tâm vượt ra ngoài mọi đối đãi của tư duy hữu ngã.

6. Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā. (Sanskrit Devanāgarī: गते गते पारगते पारसंगते बोधि स्वाहा).

Theo giảng giải của đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 thì mỗi chữ trong câu chú trên tương ứng với một lộ trình tu tập Bồ-tát giới từ thấp đến cao đó là:

  • gate -- Lộ trình tích lũy hay tích lũy đạo
  • gate -- Lộ trình chuẩn bị hay gia hành đạo
  • paragate -- Lộ trình tri kiến hay kiến đạo
  • parasamgate -- Lộ trình thiền định hay tu tập đạo
  • bodhi -- Lộ trình vô học hay vô lậu học đạo

 

II.Tìm hiểu nội dung

 

Đến đoạn này, kinh văn lần nữa xác quyết “Các đức Phật trong ba đời đều nương Bát nhã ba la mật đa nên đắc đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác”. Ngoài Bát nhã ra thì không có con đường nào khác làm cho tâm vượt thoát vọng tưởng. Cũng khẳng định lại lần nữa rằng, con đường Đại thừa chính là tâm siêu việt mọi tư lượng bởi quán chiếu Bát nhã.

Đạt thành trí giác vô thượng bằng con đường đạo học chứ không phải là con đường triết học. Vì vậy cho nên, các Tổ xưa dùng hết thì giờ cho việc tham thiền (bất lập văn tự) để hướng đến giải thoát giác ngộ, chứ không mất thì giờ cho con đường học vấn, với mớ kiến thức vay mượn của người xưa ngang qua kinh sách với văn từ ngữ nghĩa, với những học vị, bằng cấp dễ bị đánh lừa.

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề là phiên âm từ tiếng Phạn. Hoa văn  dịch là: Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nghĩa là giác ngộ chân chính tuyệt đãi. Bồ tát trên tiến trình quán chiếu Bát nhã mà được tự tại giải thoát, tức đạt thành quả vị tối thượng.

Chú là dịch âm từ tiếng Phạn Mantra (mạn trà). Theo nghĩa hẹp thì mạn trà là những lời cầu đảo thuộc thần bí, khi đọc lên nó có tác dụng biến hóa hiện tượng và có hệ quả cả thiện lẫn bất thiện. Theo nghĩa rộng thì mạn trà là cái tạo nên công năng nắm giữ, thâu tóm mọi nghĩa lý, làm tiền đề phát sinh mọi công đức, diệu dụng. Mật chú là do thời kỳ Phật giáo phát triển, lấy mật chú của Ấn Độ giáo đưa vào.

Có bốn loại đà la ni:

1.Pháp đà la ni.

2.Nghĩa đà la ni.

3.Nhẫn đà la ni.

4.Chú đà la ni.

Trong bài kinh Tâm này thì “ Gate gate, pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā” thuộc chú đà la ni. Đại thần chú nghĩa là chú thần, có năng lực giúp hành giả siêu việt vọng tâm. Hành giả nhờ nương vào quán chiếu Bát nhã, nên tâm siêu việt mọi tư lượng, trí tuệ bản nhiên hiện hữu, do đó “phiền não tức bồ đề, sinh tử tức niết bàn” bởi tâm “bất nhị”, nên nói là chú đại thần. Thần chú trí tuệ ấy chiếu phá vô minh, làm khô cạn biển lớn sinh tử, vượt thoát dòng tâm thức của muôn kiếp sinh diệt, với đầy dẫy sầu bi khổ ưu não, nên nói là chú đại minh. Cũng nhờ trí tuệ Bát nhã ấy mà chứng niết bàn vô thượng, nên nói là chú vô thượng. Lại cũng nhờ vào trí tuệ Bát nhã ấy mà chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác, không gì so sánh được nên gọi là chú vô đẳng đẳng (2). Pháp quán chiếu Bát nhã có công năng to lớn như thế, nên được mệnh danh là đà la ni. Bởi đà la ni là tổng trì, tức bao hàm tất cả thời gian, tất cả không gian và siêu việt thiện ác. Vì đà la ni mang tính bao hàm như thế, nên thể của nó là trí vô phân biệt (3) nên tự hóa giải mọi hành uẩn; mà dụng của nó là chiếu soi thật thể các pháp (4). Vì vậy cho nên, đức Phật tán thán và tôn xưng pháp tu này như là thần chú; chứ không phải nơi câu chú. Vì nếu lấy câu chú để giữ ý không cho tạo tác, thì ý sẽ trở lại nhất niệm vô minh, nên không thể vượt thoát sinh tử được.

Chính vì công năng và diệu dụng to lớn của trí Bát nhã như vậy, nên tiêu trừ hết thảy khổ đau ách nạn. Cũng vì giải trừ được những thống khổ ách nạn, nên kinh văn khẳng định lại lần nữa là  “chân thật không hư dối”. Đến đây diệu dụng không thể nghĩ bàn, bởi tâm đã siêu việt mọi tư lượng, nên “tự ngôn tự ngữ chấm dứt, tâm hành xứ diệt” và được biểu trưng cho mật ngữ “Ga tê ga tê, pa ra ga tê, pa ra sam ga tê, bô đi sờ va ha”, tức hiển thị tuệ giác thật tại phi tư lượng.

Cần lưu ý là có một số học giả, vì không hành tự tâm nên không nhận ra trí tuệ Bát nhã của mình, do đó khởi vọng tâm lập nghĩa của bài thần chú này là “Qua đi qua đi, qua bờ bên kia đi thì sẽ có niết bàn”. Khởi lên những niệm tưởng như vậy, chính là đưa tâm trở lại sinh diệt, nên xa lìa trí Bát nhã vậy.

Vì tâm hành xứ diệt, nên chỉ dịch âm mà thôi, bởi mật chú trong bài kinh này không phải là pháp đà la ni, cũng không phải là nghĩa đà la ni. Điều cốt yếu là khi trì chú kinh tâm này (tức trí bát nhã), thì chuyển vọng thức thành trí vô phân biệt. Công năng của trì chú là tự giải trừ mọi niệm tưởng. Vọng niệm được đoạn tận bằng cách quét sạch mọi thứ tình chấp bằng “vô”, khi ấy thật tướng Bát nhã mới hiển lộ, tức đạt được cảnh giới chân như niết bàn, tâm được tự tại vô ngại, nên gọi là giải thoát.

Diệu dụng của Bát nhã giúp cho chúng ta tỉnh giác trọn ngày đêm, đủ năng lực chuyển y bởi lực vô công dụng hạnh, mới có cơ duyên triệt ngộ, thẳng đến niết bàn vô thượng. Vì vậy cho nên, quán chiếu Bát nhã là phương tiện mà cũng là cứu cánh giải thoát giác ngộ. Xin hành giả liễu tri cho.

 

Ghi chú:

(1).tam mật tương ứng, tức thân bắt ấn là thân mật, miệng tụng chú là khẩu mật, ý duyên vào là ý mật nhằm đưa tâm về nhất niệm.

(2). không gì so sánh được.

(3). nhất thiết trí.

(4). nhất thiết chủng trí.

                                                 Lược giải kinh Tâm hết.

 

Thành kính đốt nén hương lòng đảnh

lễ Pháp Bảo cùng chư Phật thường

trụ khắp mười phương. Thành

kính niệm ân giáo dưỡng

của Hòa Thượng bổn sư

cùng chư thiện tri thức

Nguyện hồi hướng

công đức này cùng

khắp pháp giới

chúng sinh đều

được lợi lạc.

 

Mùa Phật đản - Phật lịch 2555 - May-28-2011    
Tỳ kheo Thích Minh Điền

 

Tài liệu tham khảo 

 

1.Kinh Đại Bát nhã

2.Kinh Lăng Già

3.Kinh Lăng Nghiêm

4.Kinh Duy Ma

5.Kinh Hoa Nghiêm

6.Kinh Pháp Hoa

7.Kinh Pháp Bảo Đàn

8.Luận Đại Thừa Khởi Tín

9.Duy Thức tam thập tụng

10.Luận Đại thừa bách pháp

11.Luận Đại trí độ

12. Đạo vật lý (The Tao of Physics). 

PHỤ LỤC 

TRI KIẾN PHI KIẾN

Phải chăng trường đời là nơi tranh danh đoạt lợi, hay chính là do mầm tham ái ở tại lòng mình mới là động cơ sinh ra mọi sự?

Chính cái tình thức của ta bị chia chẻ manh mún bởi sự lộng hành vô độ của dục ái, đã đẩy đưa ta lang thang từ vạn kiếp luân hồi với bao khổ lụy bi ai. Ta cứ mãi than thân trách phận, hoặc ngậm buồn nuốt hận rồi đổ lỗi cho Đấng tối cao tạo ra kiếp người cùng khổ, hoặc phó thác cho số mệnh trời định bất công, hoặc trách cứ xã hội phân chia giai cấp một cách tàn nhẫn!

Chính lưới tà kiến mà ta và người đã dựng xây từ vạn kỷ, tạo nên những sợi dây oan nghiệt trói chặt ta và đồng loại vào chốn đau thương.

Ta dựng nên Tôn giáo này, Triết thuyết nọ, Chủ nghĩa kia để rồi dẫn đến luận tranh, bạo hành, tương tàn tương sát lẫn nhau.

Giá như có một Đấng tối cao anh minh, thì sao Ngài lại ngớ ngẩn tạo nên bao nổi thống khổ cho thế gian này?

Nếu có một triết thuyết tuyệt hảo thì sao không làm kim chỉ nam thực dụng cho loài người thoát vòng khổ lụy bi ai?

Phải chăng những mớ luận thuyết ấy chỉ là sản phẩm giả lập của tâm thức cá nhân, hay tâm thức cộng đồng của một nhóm người, một sắc tộc, một quốc gia, một niềm tin tôn giáo hay một hệ thống chủ nghĩa chính trị?

Và nếu tâm thức ấy mang tính nhân bản, thì ít ra cũng đem lại sự bình ổn, sự hiểu biết và thương yêu chân thật nhằm hạnh phúc hóa cuộc sống nhân sinh mới phải?

Ai lại nhẫn tâm đè đầu cỡi cổ, đặt ách thống trị, hoặc sát phạt họ vì họ không chịu mang cùng một nhãn hiệu với mình?

Và nếu thế, thì các tôn giáo, các chủ thuyết, chủ nghĩa ấy có giá trị gì trong cuộc sống thực hữu của nhân sinh?

Trong khi tính nhân bản thì không cần danh xưng, chẳng có nhãn hiệu gì cả, mà chỉ cần “Thương người như thể thương thân” là đủ.

Nếu mình thương người vì họ cùng một tôn giáo, cùng một tín ngưỡng với mình, thì ra mình thương tôn giáo mình chứ đâu phải là thương người?

Nếu mình thương người vì họ cùng một màu da, cùng một sắc tộc với mình, thì ra mình thương sắc tộc của mình chứ đâu phải là thương người?

Nếu mình thương người vì họ cùng một chí hướng, cùng một chủ nghĩa với mình thì ra mình thương ý thức hệ của mình chứ đâu phải là thương người?

Chính vì những lẽ trên, nên người ta dễ đi đến cực đoan, tạo tiền đề ngăn cách giữa người và người, giữa tôn giáo này với tôn giáo nọ, giữa sắc tộc này với những sắc tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia nọ, giữa hệ thống chủ nghĩa chính trị này với những hệ thống chủ nghĩa chính trị khác.

Trong khi “Không có giai cấp trong dòng nước mắt cùng mặn, và trong dòng máu cùng đỏ như nhau”. Trân trọng thay lời nói ấy !

Cố chấp vào một quan điểm, vào một nhận thức, vào một luận thuyết mang tính chủ quan cục bộ của dòng thức, tạo nên những kiến thủ cực đoan ngăn đường bít lối ta đi đến chân lý.

Vì vậy, mở rộng tâm hồn đón gió muôn phương, nhằm đem lại tươi mát, bình ổn và an lạc cho mình và tha nhân là rất cần thiết. Song, mọi ý hướng đi tìm chân lý bởi thứ tình thức mang tính chủ quan, thì chẳng khác nào kẻ mù bị lạc vào rừng rậm, thật khó mà tìm ra lối trở về nhà.

Những mớ định kiến mà ta mang theo, nó tạo nên những uy lực đè nặng tâm hồn và phân hóa thực tại. Trong khi, chân tướng của vạn hữu là bản thể sống động bao hàm, luôn luôn vận hành một cách lung linh mầu nhiệm.

Nếu tự quán sát tâm theo khuôn mẫu của ký ức đã chết cứng tự bao giờ, thì vô tình ta đã quay lưng sấp mặt, bỏ qua thực tại với những uyên nguyên của nó. Trong khi, ta chỉ cần rỗng rang mọi sự, thì tâm ta được giải phóng, thông lưu và vô nhiểm. Ta thấy lại con người thật xưa nay của chính mình một cách chân xác như

nó đang là, mà không bị một định kiến nào, một ý thức phân biệt nào can dự vào làm cho sai lạc.

Dùng mọi phương cách để theo dõi tâm, nhận dạng tâm, hướng dẫn tâm, điều phục tâm chỉ là cách chế ngự ý, an lập ý của Nhị thừa bởi người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt. Trong khi, người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt cũng chỉ là tâm.

Song, “Tâm không thể nắm bắt từ bên ngoài, từ bên trong hay ở giữa. Tâm vô hướng, vô niệm, không có chỗ sở y, không nơi chốn quy túc. Các đức Phật không thấy tâm trong thì quá khứ, trong hiện tại hoặc ở tương lai”. (kinh Phật).

Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao mà quán niệm được. Nếu có quán niệm, thì chẳng qua là sự quán niệm về những vọng tưởng sinh diệt của các đối tượng tâm ý…v.v…Một lưỡi gươm không thể tự cắt nó. Một ngón tay không thể tự sờ mó nó. Tâm không thể quán tâm.

Trong khi ấy, mọi thứ tích tập từ vô lượng kiếp đến nay, nó chỉ là những sản phẩm vay mượn của tiền nhân; cái mà người xưa gọi là “Đồ ói mửa của Thánh nhân”. Hẵy quên đi tất cả mọi tư niệm, mà chính nó đã tạo nên những tràng hí luận hỗn man, dẫn ta về rối rắm. Quên đi cả những gì đang nói và quên luôn cả cái quên, thì cánh cửa chân lý tức thời rộng mở. Những pháp môn được dựng lập bởi dòng thức chỉ tạo thêm vòng lẫn quẩn bởi chính công họa sư tâm ý và vẫn bị giam hãm trong cái rọ tư tưởng ngàn đời, chẳng khác nào kiến bò quanh miệng chén mãi tìm lối nhưng không thể thoát ra.

Đem tâm tìm tâm hay đem tâm quán tâm, thì chẳng khác nào muốn tránh cái bóng mà lại đứng giữa ánh nắng mặt trời. Chẳng biết đó chỉ là “Đầu mọc thêm đầu, tuyết rắc thêm sương” mà thôi.

Liễu ngộ chân lý không hạn cuộc bởi ngôn ngữ với mớ kiến thức vay mượn từ quá khứ, rồi đặt để cho hiện tại, hay dự phóng về tương lai.

Cái thấy biết chân thật nó siêu vượt khỏi tầm đối đãi của Nhị nguyên. Hành vô hành là lộ trình không tên gọi. Khi rễ vọng tâm không đất nương tựa thì vòng luân

hồi vào chốn vô sinh. Khi mặt trời lên thì đêm đen lui bóng. Đừng cho chi cũng chẳng nhận gì. Thử tìm xem là gì???

Tỳ kheo Thích Minh Điền

Spiritual knowledge without mundane knowledge

Is it true that life is the competition field for fame and material benefits, or is it due to the very root of craving within our hearts which is the motive for generating all sorts of life-troubles?

It is merely our subjective emotions divided into many small pieces which force us to drift purposelessly through thousands of death-and-life cycles with all sorrows and sufferings. We constantly keep feeling sorry for ourselves, or painfully tolerate and blame the Creature for rendering human lives miserable, or desperately leave it to the God-decided unfair fate, or blame the society for cruelly dividing the society into many social classes!

It is just the net of false views that we and others have built since thousands of years that creates the requital chain to tightly bind us and our kindred into the sorrowful and painful world.

We formulate this religion, that philosophy, the other doctrine to lead us to argument, violence, and killing each other.

If there were a Highest One, why would He unintentionally create all such sorrows and sufferings in this world?

If there were a perfect philosophy, why would it not be used as the utmost guide for humanity to be free from all sorrows and sufferings?

Is it because these philosophical theses are just the falsely formulated products of individual point of view, or that of a community, a group of people, a race, a country, a religious faith or a system of political doctrine?

And if this point of view is humanistic, at least it would bring peace, understanding and genuine love for the happiness of humanity?

Who can heartlessly and cruelly suppress, dominate, or kill them because they do not carry the same label as us?

And if so, then how could any religion, any philosophy, and any doctrine have any value at all in the real existence of humanity?

At the same time, humanism does not need any name, any label, but just “love others as yourself” is sufficient.

If we love others because they have the same religion, the same spiritual faith with us, then is it true that we merely love our religion and not other people?

If we love others because they have the same skin color, the same race with us, then is it true that we merely love our race and not other people?

If we love others because they have the same belief, same doctrine with us, then is it true that we merely love our belief system and not other people?

Because of the very reasons mentioned above, people easily go to the extreme, creating antecedents to separate these people from other people, this religion from other religion, this country from other country, this political system from other political system.

Meanwhile, “There are no social classes in the tears being equally salty, and in the blood being equally red.” How admirable is such saying!

Tightly attachment to a subjective view, a personal perception, a doctrine narrowly limited to individual understanding creates an extremely protective point of view that heavily hinders our path to the truth.

So, it is critical to widely open our minds to welcome good winds from all directions, bringing freshness, peace, and happiness to ourselves and others. All quests for the truth characterized by subjectivity are similar to the blinds losing their way in thick jungles, very difficult to find a way home.

All pre-conceived perceptions we have carried with us carry heavy pressure on our minds and divide reality. Meanwhile, the true nature of all existences is a lively and all-pervading entity, constantly functioning mysteriously and magnificently.

If one observes his own mind according to the criteria of his long-time worn-out memories, he unconsciously turns his back, lies upside down, and misses the reality with its originally fresh nature. At the same time, we merely need to free ourselves of everything, our mind will be delivered, all communicating and purified. We will see our true selves as ever truthfully and exactly as they really are, undistorted by any preconceived perception, and any discriminating opinion.

Using all means to observe one’s mind, understand its nature, guide it, and control it is the Theravada’s way to take control of the consciousness, and to pacify it via the observer and the observed. However, the observer and the observed are both merely the mind.

But, “the Mind can not be seen from outside, from inside, or from the middle. The Mind is without direction, without conception, without form, and without residence. All Buddhas do not see the Mind in the past, in the future, and at the present” (Buddha’s sutras).

How could we visualize that the Buddha can not see. If we can, we merely visualize the delusions that become and go away of the mental objects, etc. A sword can not cut itself. A finger can not touch itself. The mind can not visualize itself.

At the same time, all things having been accumulated from ever since unlimited lives to the present are just the products borrowed from people of the past; that which people called “The vomited stuffs of the Saints.” Forget all those personal conceptions, which themselves lead to all series of wild and useless arguments, taking us to confusion. Forget all what being spoken, and forget even the forgetting, the door to the truth immediately opens. All points of view formed by subjective perceptions just create more wandering closed circles of knowledge by human mental architects, and always imprisoned in the ever-existing human thoughts, similar to the ant crawling on the circling mouth of a bowl, ever desperately looking for a way out.

Looking for one’s mind with his mind or contemplating about one’s mind with his mind is not different than trying to avoid one’s shadow while standing under the sunshine. One doesn’t understand that it is merely, “A head grows more head; a snow receives more snow.”

Understanding the truth is not limited by a language of knowledge borrowed from the past, applied to the present, or planned for the future.

The real understanding transcends the two sides of duality. Doing without doing is the un-named path. When the roots of delusions have no place to grow, the birth-and-death cycles vanish. When the sun rises, the dark recesses. Give nothing and also receive nothing. Try to find out what it is???

Bhikkhu Thich Minh Dien

THIỀN

 

Thiền không phải là một tôn giáo, một học thuyết hay một quan niệm thuộc về tri thức. Thiền cũng không phải là nền triết học với những hệ thống luận lý mang tính chủ quan của vỏ não; cũng không phải là ngành khoa học với những cơ cấu lập trình và máy móc phức tạp.

Thiền chỉ là một danh từ tạm dùng để chỉ một tâm thái thường trực, bất biến và phi thời – không. Bản chất của thiền nằm ngoài mọi cặp phạm trù mâu thuẩn xung đột thuộc duy lý chủ quan bởi suy tưởng lý luận. Chúng ta có thể đạt đến trạng thái này bằng thể nghiệm tâm linh với bản chứng tự tâm, chứ không qua suy luận của bộ óc. Đây chính là công việc của đạo học, chứ không ở nơi triết học. Danh từ Thiền cũng chỉ là tiếng rỗng tuếch, không liên hệ gì đến tâm thái tịch nhiên vắng lặng, an tĩnh và tự do tuyệt đối của tâm hồn. Tâm thái này không hình thù, không tên gọi, nên từ trong bản chất nó xa lìa tướng danh tự, tướng nói năng, tướng tâm duyên. Nó bình đẳng tuyệt đối với mọi pháp.

Vì vậy cho nên, chúng ta hãy nghe lại cõi lòng như nó đang là, mà quên hết những tự ngôn tự ngữ của dòng tâm thức, quên hết mọi tìm tòi học hỏi của vọng tâm.

Y hệt như ngón tay dùng để chỉ mặt trăng, những lời nói thuộc kinh điển chỉ được tạm dùng để diễn tả cái lẽ thực bất biến nơi tự tâm, nên hãy quên nó sau khi cảm nhận thực tại.

Đừng bao giờ để kinh điển, giáo điều đánh lừa mình với những văn phong hoa mỹ, hay trở thành nhà tù giam hãm tâm thái tự do tĩnh lặng tuyệt đối của mình.

Tham thiền đòi hỏi có một tự giác cao độ và thường trực, y hệt như mèo rình chuột khi nào bắt được chuột mới thôi. Và mỗi khi tỏ ngộ tâm thái tĩnh lặng phi thời – không thì chính sự tỏ ngộ ấy sẽ soi sáng, hướng dẫn chúng ta trong mọi hành vi của sự sống. Chính sự tỏ ngộ ấy mà chúng ta trực nhận ra rằng, cái tâm thái tĩnh lặng và an nghỉ tuyệt đối ấy chính là niết bàn,  cũng chính là thiền. Vì vậy cho nên, thiền không có bắt đầu và kết thúc.

Ngược lại, khi chưa tỏ ngộ, chưa nhận ra bản tính tịch nhiên vắng lặng chiếu soi nơi mình, thì chưa thật sự tham thiền, chưa biết thiền là gì và vẫn còn đứng ngoài ngưỡng cửa thiền. Mọi hành vi tạo tác của chúng ta dầu có tinh vi khôn khéo đến đâu, thì cũng chỉ là sự cân nhắc tính toán dọ dẫm của ý thức mà thôi, nên không thể tránh khỏi vụng về dại dột lầm lẫn và đưa đến xung đột. Khi tỏ ngộ được tâm thái tự do, an nghỉ tuyệt đối của tự tâm, thì khi ấy cuộc sống mới tràn đầy ý nghĩa, và mọi động thái luôn được soi sáng. Một tầm nhìn mới về nhân sinh và vũ trụ được mở ra; thấy cõi đời không là biển khổ nữa, mà là một bức họa lung linh mầu nhiệm, một bản hợp tấu tuyệt vời. Chúng ta không nhìn đời bằng ánh mắt hoang vu, mà bằng đôi mắt bình đẳng và tràn đầy yêu thương chân thật.

Mỗi khi cánh cửa thiền rộng mở thì bậc thầy lui bước. Lúc này hành giả tự mình cất bước độc hành trên lộ trình giải thoát, mà không còn ai can thiệp vào nữa. Tuy nhiên vẫn còn có những cuộc chiến đấu, nhưng dù phải chiến đấu mình vẫn được soi sáng bởi tĩnh thức nội tại và không bao giờ bị lạc hướng bởi đã có một lần kinh nghiệm tỏ ngộ trạng thái thanh tịnh bản nhiên của tự tâm.

Khi lọt vào cửa thiền thì chúng ta sẽ trở thành con người mới với nhãn quan mới, tức sống đồng nhất với chân lý. Sự tỏ ngộ không nhất thiết là lời khai thị của bậc tôn sư, mà lắm lúc chỉ cần một tiếng suối reo, một cơn gió thoảng, một chiếc lá lìa cành, hay một nhánh cây khô gãy. Khi ấy hành giả như người ngủ mê chợt giật mình tỉnh giấc, lập tức vụt thoát khỏi cơn mộng dài. Hành giả đã tỏ ngộ và thân chứng chân lý, đã trực nhận ra tâm thái tự do sống động và bất biến nơi mình, mình là vũ trụ, vũ trụ là mình. Ngay phút dây tỉnh thức ấy, hành giả không còn chiến đấu nữa và đã yên nghỉ trọn vẹn trong tâm thái tự do và bình lặng tuyệt đối của mình. Một cơ duyên chuyển hóa toàn diện đã xảy ra, đưa tâm thái đồng nhất với vũ trụ.

Như vậy, trước cuộc khởi hành diệu vợi, hành giả đã có bản đồ và kim chỉ nam trong tay. Hành giả đã nhận ra lộ trình và nơi đến. Hành giả đã có kinh nghiệm là bấy lâu nay tự đào xới tâm hồn mình bằng nhiều phương tiện và nay đã quá mệt mỏi vì những phương tiện ấy. Hành giả đã trực nhận ra sự dại dột trong việc dửng dưng dùng phương tiện ấy để dày xéo tâm hồn mình. Bây giờ hành giả đã tỉnh thức sang ngang, mà không trụ lại trên bất cứ cây cầu nào, cho dù cây cầu ấy tân kỳ đẹp đẽ đến đâu. Giờ đây hành giả không còn gì để làm, để nói cho dù chỉ một lời thôi. Bản thể sống động bao hàm hiện hữu với tuệ giác thực tại tuyệt vời. Chân lý hiện hữu uyên nguyên nơi mỗi chúng ta như hơi thở với không gian, như bầu trời chứa đầy trăng sao huyền nhiệm. Hành giả đã thân chứng chân lý bằng tâm thanh tịnh bản nhiên, mà không qua trung gian của dòng thức phân biệt nào, nên không còn bị ảo giác và kiến thức đánh lừa nữa./.

Tỳ kheo Thích Minh Đin

  

Meditation

Meditation is not a religion, a doctrine, or an intellectual point of view. Meditation is also not a philosophical doctrine with a system of logical reasoning from subjective minds; it is neither a branch of science with a structural programming and complicated equipments.

Meditation is just a name casually used to refer to a permanent mental state, constant, and transcending time and space. The nature of meditation is beyond all opposing and contradicting pairs of subjective logic from reasoning thinking. We can reach this state by spiritual experience with our true mind, and not through the reasoning of our brain. This is a spiritual task, and not a philosophical one. The word Meditation is just a completely empty name, not at all related to the mental state of tranquility, quintessence, and absolute freedom of the mind. This mental state is formless, nameless, hence from its very nature; it is completely cut off from the so-called name, word, and thought. It is absolutely equal to all things.

Therefore, we have to once again listen to our deep mind as it presently is, forgetting all words and sounds of the judging mind, forgetting all quests for knowledge from delusions.

Exactly like a finger pointing the moon, all teachings from sutras are merely used temporarily to describe the never-changing truth of the true mind, so forget them after experiencing the reality.

Never let sutras, dharma teachings mislead us with their beautiful writing style, or let them become a place to imprison our mental state of absolute freedom, and complete quintessence.

Practice meditation requires a high and permanent self-perception, exactly like a cat ambushing mice, never giving up until catching a mouse. And once, clearly experiencing the tranquil, quintessential, and time-and-space transcending mental state, this clear experience will light and guide us in all activities in life. Thank to this very enlightenment, we realize that this mental state of tranquility, quintessence, and absolute peace is exactly Nibbàna, and also meditation. Hence, meditation has no beginning and no ending. On the contrary, when not enlightened yet, not realizing the true nature of quintessence, tranquility, and transparently shining through one yet, one is still not really meditating, not understanding what meditation is yet, and still stays outside of the door of meditation. All generating activities, no matter how clever and how smart, are merely the calculated testing estimations of the judging mind, and hence can’t avoid clumsy mistakes leading to conflicts. Once experiencing the mental state of perfect freedom, absolute peace of the true mind, one’s life is then abundantly meaningful, and all moving states are clearly lighted. A new view about humanity and the universe is opened; realizing life is no longer a sea of sufferings, but a lingering mysterious painting, a wonderful

concert. We will not look at lives with aloof and deserted eyes, but with ones of equality and plenty of true love.

Anytime the door of meditation opens, the masters take off. At this time, the practitioner by himself walks alone on the path to deliverance, with no one intervening any more. However, there are still battles, but even if one has to fight, he would be clearly lighted by the true consciousness within, and will never be lost because he has once experienced the state of natural quintessence of his true mind.

Once inside the door of meditation, we’ll become a new person with a new point of view, meaning to live in harmony with the truth. The enlightenment is not necessarily triggered by an eye-opening word of a venerable master, but often just singing sound of the water in a creek, a light fresh breeze, a leaf detaching from a branch, or a dry tree’s branch being broken. At that time, the practitioner is like a man in sound sleep just waked up, immediately escaping a continuous dream. The practitioner is enlightened and experiences the truth, directly perceives his mental state of lively and constant freedom, realizing he is the universe, and the universe is he. At this very moment of awakening, the practitioner no longer fights and has peacefully and completely rested in his mental state of perfect freedom and absolute tranquility. All opportunities for total transformation happened, leading the mental state to unify with the universe.

So, before of a long journey, the practitioner already had a map and a compass in his hand. The practitioner already perceived the path and the destination. The practitioner has the experience of beating his own mind with various means and now is too tired with all these means. The practitioner has realized his stupidity in insensibly using these means to harm his mind. He is now awakened to cross the river and does not stay with any bridge, regardless of how modern and beautiful it is. Now, the practitioner does not have anything else to do, to say even one word. The lively true nature embodies the reality with a magnificent true wisdom. The original truth manifests in each of us like the breath with space, like the sky holding plenty of mysterious stars and the moon. The practitioner has personally experienced the truth by the original and peaceful mind, but not through the intermediary of any judging mind, and hence no longer misled by delusions and ordinary knowledge.

 

Ty kheo Thich Minh Dien

 

 

BÁT  NHÃ  DIỄN TÂM KINH

TỔNG NHIẾP MỌI  CHÚNG SINH

VỀ  NIẾT BÀN VÔ TRỤ

THẮP SÁNG CHÚNG  HỮU  TÌNH

TMD

True wisdom unveiled by the Heart sutra

Embodies all sentient beings

Guiding them to the un-attachment Nibbàna

Helping all to enlightenment

 

鴈 過 長 空

影 沈 寒 水

鴈 無 移 跡 之 意

水 無 流 影 之 心

Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Thiền sư Hương Hải Việt Nam(1628 - 1715)

The Heart Sutra of Perfect Wisdom

(Prajna Paramita)

Elaborating translator: Bhikkhu Thich Minh Dien

Dịch sang tiếng Anh

Nguyễn Nghiệp

(English translator: Nghiep Nguyen, Ph.D.)

@&?

Preface

 

The Heart Sutra of Perfect Wisdom is extracted from the Great Version of the Sutra of Perfect Wisdom (Maha Prajna Paramita), condensed into 262 words. Through many generations, translators have had written this sutra on palm leaves. Until the 7th century, Venerable Monk Hsuan ordered to engrave this heart sutra on rocks at the White Horse Temple, where he resided.

The entire text of this Heart sutra exhibits the Magnificent concept of non-attachment, aiming at helping practitioners to use their own free will to escape all erroneous and limited emotions of delusions. This magnificent concept is referred to as Perfect Wisdom. The wisdom has the ability to eradicate all erroneous, deeply-rooted views of emotions, consequently revealing the true nature of all things.

Once practitioners clearly perceive the true nature of all things by meditating on Perfect Wisdom, they immediately eradicate all motives leading to all forms of sorrows, sufferings, and lamentations; waken and enlighten the True Self, and escape the cycle of births and deaths. This is the mission as well as the ultimate objective of the whole Great Version of the Sutra of Perfect Wisdom.

With due respect, we translate and elaborate on this heart sutra, hoping to some extent to reveal the horizon of deliverance and enlightenment to those whose nature deemed fit for Mahayana (Great Vehicle), to experience the bliss.

We deeply express our gratitude to the blessing enduring works of the World Most Honorable, respectful Sangha, my Master Monk, my former Master of junior monks, and knowledgeable friends, who spent considerable time to persistently practice and pass over this precious Dharma   

With deeply sincere heart to express limited idea, we could not avoid shortcomings. We sincerely welcome all valuable comments and criticisms of Respectful and Knowledgeable

Sangha and dharma-knowledgeable friends for the newcomers like us to learn more from your teachings.

Season of the Buddha’s Birth Day

Buddhist Calendar 2555 – May 28, 2011

 

Bhikkhu Thich Minh Dien

 

摩呵般若波羅密多心經

 

觀自在菩薩行深般若波羅密多時,照見五蘊皆空,度一切苦厄。

舍利子,色不異空,空不異色,色即是空,空即是色,受想行識亦復如是。舍利子,是諸法空相,不生不滅,不垢不淨,不增不減。是故空中,無色無受想行 識,無眼耳鼻舌身意,無色聲香味觸法。無眼界,乃至無意識界。無無明,亦無無明盡,乃至無老死,亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故,菩提薩 鬌依般若菠羅蜜多故,心無罣礙,無罣礙故,無有恐怖,遠籬顛倒夢想,究竟涅槃三世諸佛,依般若波羅蜜多故,得阿耨多羅三貓三菩提.故知般若波羅蜜多,是大 神咒,是大明咒,是無上咒,是無等等咒能除一切苦,真實不虛。故說般若波羅蜜多咒,即說咒曰:揭諦揭諦,波羅揭諦,波羅僧揭諦,菩提薩婆訶。

 

English translated version

 

The Heart Sutra of Perfect Wisdom

(Prajna Paramita)

Avalokiteshvara, the Bodhisattva of Compassion, deeply meditating on Perfect Wisdom, fully realized then that the five aggregates of human existence are essentially empty, and hence released herself from all forms of sufferings, pains, and yokes of misfortune.

O Sariputta! Form is not different than emptiness, emptiness is not different than form, form is emptiness, emptiness is form. Feelings, thoughts, mental process, consciousness are also that way.

O Sariputta! All things are essentially empty, no birth no death, no impurity no purity, no increase no decrease. Hence in EMPTINESS: there is no form, no feeling, no mental process, no consciousness. There are no eyes, ears, nose, tongue, body, mind. There are no form, sound, smell, taste, touch, thing. There is no limited vision of the visual consciousness. Even there is no limited judgment of the very consciousness.

There is no ignorance; also there is no ending of ignorance. There is even no old age and death; also there is no ending of old age and death.

There is no suffering, origin of suffering, cessation of suffering, path to the cessation of suffering. There is no wisdom, also any attainment of wisdom. Because there is no attainment of anything, Bodhisattvas, relying on Perfect Wisdom, eradicate all mental obstacles. As there are no mental obstacles, there is no fear; Bodhisattvas are completely separated from all destructive delusions, going ultimately to Nibbàna.

All Buddhas—past, present, and future—all rely on Perfect Wisdom, hence experience the Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment.

Beware that Perfect Wisdom is the great mantra, the bright mantra, the second to none mantra, the incomparable mantra. It has the power to annihilate all forms of sufferings, really and truthfully. Hence, it is called the Perfect Wisdom’s mantra.

It runs like this: Gate gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha.

 

Notes:

  • “Gate gate, paragate, parasamgate, bodhi svaha” is the sound-based Sanskrit mantra
  • The Chinese sound-based Vietnamese mantra is “Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”

Introduction

 

In the system of developed Buddhism, any time one talks about Mahayana Buddhism, one has to mention the Great Version of the Sutra of Perfect Wisdom because it is the source where all sections of Mahayana originated. Because Perfect Wisdom is the true wisdom, it transcends all

opposing concepts of the two sides. The word Perfect Wisdom is translated from a Sanskrit word “Prajnà” and conveys the meaning of ultimate wisdom, or the wisdom of emptiness.

Regardless of what the word is translated, the Chinese as well as the Vietnamese translation do not completely convey the intended meaning of the Sanskrit word, and hence a sound-based word is used, which is Prajnà.

Using the word wisdom often leads to the researcher’s misunderstanding for the ability of the judging mind, which is the ability to emit the waves of the human brain to form the spoken or written words in the conscious mind[i] The ability of the judging mind is normally understood as the intelligence of the brain to perceive old knowledge, or to formulate new knowledge. This intelligence of the brain is referred to by the Buddha as the mundane intelligence, including both the good and the bad and hence brings about the consequence of less happiness and more suffering. As a result, this judging mind is of course closely related to bad karma.

Unlike the karma’s force, Perfect Wisdom is essentially a natural wisdom which transcends both the good and the bad. It is an indiscriminating mind (the wisdom of emptiness) hence also called the enlightened mind or Buddha Nature. This wisdom is by nature completely unrelated to all emotion-based motives, absolutely quintessential and transparent like the non-possessing emptiness. However, it holds all possibilities within.  It exists inherently and divinely within each living being, and thus called the true original nature.

Because by nature it silently perceives things as they are (as seen) and hence completely unattached to all observed objects, in all circumstances. It essentially transcends time and space, and therefore is not bound by any object or circumstance, and is also called as-is meditation. Thanks to as-is meditation, it perceives with a penetrative insight the true nature of all things as they are, and thus called the true-nature wisdom.

Also the same ultimate wisdom, but from the point of view of meditating as is on all phenomena, it is called the meditation with penetrative insight. And although the utilization is meditation, but the true nature is always quintessential, similar to a mirror truthfully reflecting all forms, but the surface of the mirror is absolutely immobile. The nature is quintessential but the utilization is reflecting as is, although two but being one, although one but being two; because nature and utilization are not two aspects (non-duality concept).

Because of its emptiness and quintessence, one then realizes that the five aggregates are all empty, and it is named the wisdom of non-duality. In Buddhist terminology, this penetrative insight—originating from the Sanskrit word “sunyata”—can be translated as the nature of emptiness. The nature of emptiness is the original quintessential nature of consciousness, hence by itself transcends two emotion-based preconceptions: self-centered ego and the belief that external things are real. It is also called the True Mind. Because it is the True Mind, we can

not reach it with any mental concepts, but can only experience it by spiritual way, i.e. by truly experiencing Perfect Wisdom.

Those who have researched on teachings of Theravada Buddhism realize that the essence of these teachings can be summarized in one concept: the conditional arising. Buddhism is different from other religions in just this concept. Whoever understands the truth about the conditional arising of all phenomena, can not accept the existence of a Mighty Creator. Because indeed any psychological or physical phenomenon can not come from only one thing, but all and everything are formed by the combination of many events (cause-and-consequence creation). Therefore, whoever believes in the conditional arising is a Buddhist from the knowledge’s point of view. On the contrary, even a Buddhist or a monk, not realizing conditional arising, not believing in the cause and consequence principle in order to convert his mental attitudes or actual behaviors from bad to good; he is just a disguised Buddhist outsider. Such statement emphasizes the fact that the teaching of conditional arising is the core concept of Theravada Buddhism.

Through the Buddha’s divine eyes, all things and phenomena are formed by multiple causes, and hence have no uniquely identified entities. Because of not having uniquely-identified entities, they are unreal. Being unreal, they are impermanent. All and everything do not have uniquely-identified entities, unreal, impermanent and hence one can not confirm what they are, as well as deny what they are not. Because one can neither confirm nor deny, there can not be “two sides” at all, then perfect wisdom manifests. That is the process of unveiling Buddha Nature or to manifest the truth of the teachings of Mahayana Buddhism. Without the principle of conditional arising, there is no Theravada Buddhism; without the perception of Perfect Wisdom, there is no Mahayana Buddhism.

So far, the unification and continuity from the Original (Theravada) Buddhism to Mahayana Buddhism are evidently clear. Once we accept the principle of conditional arising, of course we will also accept the two characteristics of egoless-ness and impermanence. All mental and physical phenomena from what we see, hear, or think, etc. don’t have uniquely-identified entities, even if they exist in sight (current existence is empty). That existence is conditioned, i.e. formed by multiple causes. Therefore, through Perfect Wisdom, we experience the true nature of all things. From the conscious to the unconscious living beings, all are egoless and impermanent, hence always being transformed from one form to another by the corresponding sensitive causes, or by the very energy inherent in each causative element. Because of the emptiness inherent in all living beings and things, all phenomena are always becoming.

Before Mahayana Buddhism became popular, the Abhidharma schools just promoted the human ego-selfless concept, paying little attention to selfless concept of things. For example, the “thing-existing school” advocated that “any existing thing does exist” with the slogan “Three time realms are real, the nature of things always exists.” To oppose the above point of view, the Abhidharma schools of Mahasanghikas proposed the view of “all things are non-existing” using the rational arguments of the human brain based on a tedious philosophy. These latter schools advocated the destructive false emptiness concept. Their Nibbàna is the extinction with the death, in which the body is annihilated, while the consciousness and wisdom leave no trace behind (destroyed body and annihilated mind). The above two school systems fall into false existence and false emptiness originated and falsely formed by the very human brain.

If selflessness is understood that only human ego-self is empty and unsubstantiated, it falls into the false belief that all things are real. However, if one advocates that both human beings and all things are not real and hence non-existing—using the pure rationale of the judging and misleading mind—one is cut off from the reality and falls into the false emptiness view. One has insensitively framed the lively and succinct teachings of the Buddha into subjective conceptions which have been useless and dead for a long time, due to the false emptiness view of the judging mind. That is the danger of philosophy, and there are many philosophical points of view taking humanity from one extreme to another, causing heavy destructions to humanity. Therefore, one would rather accept the view of existence of thing as big as Mount Sumeru hoping someday we find the truth, than the view of non-existence of thing as small as the mustard seed to become a non-Buddhist.

Inherited the tradition of Mahasanghikas affirming that both human beings and all things are in nature empty of self-substance; the school of Perfect Wisdom—through direct perception with penetrative insight and wholeness, clearly understands that “all are universally and perfectly communicating” and “the seeing and the seen are just one” , hence experiences “actual existence implies emptiness.” The meditating entity is empty, hence the meditated entity is quintessential, the true reality explicitly manifests and therefore there are no obstacles when seeing things with penetrating insight (deeply meditating that the five aggregates of grasping are empty). In order to experience this Perfect Wisdom, the knowledge accumulated from earthly learning is completely powerless. This learning is only suitable for creating fabricated concepts of the judging mind. The experience of emptiness must come from the effort of directly perceiving with Perfect Wisdom. Therefore, practitioners have set aside the tedious repetitive study of books and sutras, the quest for understanding the wordy meaning with diplomas, easily

misleading educational status of scholars, in order to fully allocate their time to practice Perfect Wisdom, i.e. deeply meditating with penetrative insight. Meditation is exactly the natural use of the ability of seeing through of Perfect Wisdom (Buddha Nature). Perfect Wisdom is the very wisdom of seeing directly, deeply, and divinely inherent in each human mind, and hence also called the natural inborn perceiving ability. The natural inborn perceiving ability itself transcends all judgments of the human brain, leaving behind all pairs of two-opposite-entities arguments of the mental architect, hence also called Meditation[ii].

Deeply and clearly understanding as such, practitioner will then realize the true meaning of “deeply meditating” and “fully realized” phrases in the opening sentence of the Heart Sutra. Deeply meditating means spontaneously and automatically reflecting with penetrative insight, like the surface of a mirror, being incredibly smooth, reflects all things, but the mirror still maintains its quintessential nature. Thanks to the effort of deep meditation, Perfect Wisdom manifests, the practitioner then experiences that “actual existence implies emptiness”, and hence is completely cut off from the judging mind[iii]. At that time, the meditating perception is not distorted from the true nature of things, apparently two but essentially being one because “the nature and the use are not two entities.” That is the basic difference between philosophy and a spiritual quest. Philosophy is built on assumptions, while a spiritual quest experiences the truth with Perfect Wisdom. Therefore, the study based on written words in books can’t be helpful here.

Although the effort of deep meditation is required for experiencing the truth, how could the beginners in Buddhism have the faith in Perfect Wisdom to cultivate? Hence we have to elaborate on this wisdom in such a way that it unveils the fascinating and enlightenment-promising horizon to the beginners in order for them to find their path back to the origin. Hence, it is a must to utilize a means (such as the finger pointing for the moon) and this means is called the Text of Perfect Wisdom. The Text of Perfect Wisdom covers the entire writing for communicating Perfect Wisdom, from spoken words to philosophy. As a result, the Text of Perfect Wisdom is also the philosophy of Perfect Wisdom, and both are used as a means to merely introduce Perfect Wisdom. They can not substitute for the effort of deep meditation.

Discussing the philosophy of Perfect Wisdom, we have to mention its foundation for reasoning, based on which the philosophy was developed. This is the system of reasoning of Perfect Wisdom consisting of logical pairs of entities called the “Eight Nos of the Middle Path”, aiming at revealing the truth.

On the other hands, the ordinary logic is the product falsely constructed by the judging mind, originated from the waves emanated by the human brain and hence is inherently subjective and distant from reality for each brain.

The “Eight Nos of the Middle Path” is the reasoning that transcends the ordinary logic of the mundane world, aiming at helping practitioners to denounce all pairs of entities of ego-based thinking, in order to experience the truth by directly and wholly perceiving things using deep meditation. This reasoning was constructed by Venerable Nagarjuna to enable practitioners to experience the concept of “current existence implies emptiness” aiming at cleanly eradicating all false views of the judging mind, and hence emerge in Perfect Wisdom or unveil one’s Buddha Nature. This reasoning methodology simultaneously negates all eight pairs of entities held by the false views of the judging mind, to assist this mundane mind to escape all negations or affirmations falsely and emotionally built by mundane intelligence. Therefore this reasoning is referred to as “The Eight Nos of the Middle Path” and hence helps experience “things as they currently are.” We understand that all things—as phenomena—are conditionally created and hence selfless and impermanent. The logic of selflessness and impermanence apply to all and everything, and as a result we can’t affirm their existence and neither deny it. What existed a moment ago can not exist a moment later, but constantly and rapidly changes form like a speedy current of water (birth and death in a thought-moment). Therefore, both propositions of affirmation and denial are equally the falsely built products of the brain of each human being. It has the characteristic of being falsely built from the subjective mind, hence having neither ultimate value, nor the true-nature reality; but the reality is “as is.”

Not until the 19th century, this reasoning methodology of “Eight Nos of the Middle Path” was aware of and analyzed by the Western philosophers and they honorably named it “the super-transcending reasoning methodology.” The eight nos are the eight negations, consisting of four pairs and eight items: “Birth – death, annihilation – permanence, unity – duality, arrival – departure.” The reason that this reasoning methodology lists only eight items is because these are the eight typical statuses covering all things and phenomena. If one denies a status, one affirms its opposite status according to their two opposing aspects. If one says “no birth”, he falls into “death.” If one says no birth and no death, he only reveals part of the real thing. If one says impermanence then annihilation automatically manifests. If one says impermanence and no annihilation, he reveals only part of the real thing. If one says no unity then duality automatically manifests. If one says no unity and no duality, he reveals only part of the real thing. If one says no arrival then departure automatically manifests. If one says no departure then arrival

automatically manifests. If one says no arrival and no departure, he reveals only part of the real thing. As a result, practitioners must directly see with the wisdom of “eight nos” at the same time then the ultimate reality of the middle path will manifest itself. This negation methodology was developed by Venerable Nagarjuna into a great reasoning methodology, for clarifying the “emptiness” characteristic of Perfect Wisdom.

Understanding this reasoning methodology, then we can understand the meaning of the paragraph: “All things are essentially empty, no birth no death, no impurity no purity, no increase no decrease” in the text of the Heart Sutra of Perfect Wisdom, or verily the true wisdom of the enlightened one with the ultimately absolute reality.

The sutra wording employs the word “no” to cleanly sweep off all emotional bases of the deluded mind of sentient beings (via senses – objects – consciousness) in order to reveal the “emptiness” nature of all things. Due to the complete understanding of the emptiness nature, one then understands the mind of non-attachment: “Due to longing nothing, Bodhisattva relying on Perfect Wisdom, experiences absolutely free mental state.” In the quest for deliverance and enlightenment, who is still longing for something, merely experiences illusory achievements. Realizing that any intended achievement is merely delusion; practitioners then dismiss the useless reasoning methodology based on delusions of philosophy in order to emerge into spiritual values based on Perfect Wisdom.

Therefore, if we just merely discuss but do not practice penetrative meditation with Perfect Wisdom, we end up like a person who only enjoys the taste of a cake drawn on paper. If we can not escape the emotion-based delusions, we can not avoid all sorrows, sufferings, and lamentations; and can not escape the infinite current of Samsàra (the birth and death cycles). One experiences spiritual value with meditation of Perfect Wisdom, while the philosophy of Perfect Wisdom is based on the foundation of “eight nos” to help practitioners experience and once again live with their ever-existing wisdom.

As discussed above, the content of the teaching of Perfect Wisdom is embedded in the Dharma logic of “conditional arising” taught by the World-Most-Honored One. Being conditionally formed, sentient beings are ego-selfless (unsubstantiated human ego-self), and all things are also selfless (unsubstantiated entity of things). Selflessness in sentient beings and things lends itself to the Dharma logic of “emptiness.” This Dharma teaching grew very popular in the first century B.C. and was consolidated into the first textual sutra being the Small Version of Perfect Wisdom, written of the palm leaves. Until the first century, the teaching of Perfect Wisdom was further developed and formed the Great Version of Perfect Wisdom.

Because of the importance of the teaching of Perfect Wisdom, or the path to the ultimate deliverance and awakening, many people translated it in the following chronological order:

  1. Venerable Chih-Lou-Chia-Ch’an first translated the sutra of Small Version of Perfect Wisdom using the title “The Path to Practicing Perfect Wisdom” in 178 A.D.
  2. Next Venerable Dharmaraksa and other translators translated the Great Version into “Spreading the Light” and “Emanating the Light of Perfect Wisdom,” from the middle of the third century on.
  3. At the beginning of the fifth century, Venerable Kumarajiva re-translated under the title of Small Version and Great Version of Perfect Wisdom.
  4. At the beginning of the seventh century, Venerable Hsuan went to India, collected all sutras and books related to the system of Perfect Wisdom, and brought back to China to translate into the Great Collection of Perfect Wisdom consisting of 600 volumes, divided into six parts in four places altogether.

The number of sutras pertaining to the Tripitaka presently archived in the Chinese Buddhist Library has 720 volumes. Writings and philosophies were developed so greatly and so abundantly as such, yet if consolidated into the essentials, it remains merely a Heart Sutra of only 262 words (according to the version of Venerable Hsuan). This version is the second translation, while the first translation is by Venerable Kumarajiva. Both versions more accurately reflect the original Sanskrit text, written in Siddhi writing style on the palm leaves and preserved in the Hyryufi Temple of fort Nara of Japan. These two versions are called the briefly-summarized versions of Perfect Wisdom and are listed chronologically:

Venerable Chih-Ch’ien translated in the year 223. Venerable Kumarajiva translated under the name “The Sutra of Maha-Prajna Paramita and Maha Dharani” in the dynasty of Qin Dynasty, in the years 402-412. Venerable Hsuan, carrying out the royal order in the year 649 of the Tang Dynasty, translated under the name “The Heart Sutra of Prajna Paramita.” Venerable Bodhiruci translated in the year 693. Venerable Tzu Hsuan translated in the year 700.

In the Tripitaka, there is also the version of “The Heart Sutra of Buddha-Expounded Prajna Paramita” translated by Dharma Teacher I-Ching in the year 700. Similar to the Version of Venerable Hsuan, except the Dharani section, it was not translated based on the sound but by the Siddhi writing style along with an additional section. Venerable Amoghavajra translated in the year 723. Venerable Pháp Nguyệt (Master “Moon of Dharma”) translated in the year 732. Venerable Lợi Ngôn (Master “Benefiting Speech”) translated in the year 790. Venerable Trí Tuệ Luân (Master “Wheel of Wisdom”) translated in the year 850.

Venerable Fa-chen translated in the year 856. Venerable Danapala translated in the year 980. In the Cave-Temples of the Thousand Buddhas, the Sanskrit version of Venerable Hsuan was engraved on the rocks at the White Horse Temple where he resided and translated sutras. In China, Japan, Korea and Viet Nam, most people recited this version. In his quest to India for the sutras, Venerable Hsuan endured lots of hardships on the roads, but thanks to reciting this Heart sutra, he survived all difficulties. Whoever recites it with one-pointed mind will enjoy unlimited meritorious blessings because it is precisely the Heart Sutra.



[i] Universal, uninterrupted continuity of conditions

[ii] A mind of emptiness is the very meditation

[iii] Written or spoken words in one’s mind are falsely formulated by delusions

----------------------------

Explanation the Title of the Sutra

 

The six words “The Heart Sutra of Perfect Wisdom” are the title of this sutra. The word “Sutra”, a sound-based translation from Sanskrit, means “in-depth understanding and persistent application.”

The teachings of the Buddha help us to meditate on our body, our mind, and external things in order to transform bad deeds to good deeds.

The sutra also helps us to deal with delusions in order to facilitate the manifestation of the True Mind. A sutra is instrumental or logically truthful, i.e. suitable to each sentient being’s personal nature or consistent with the truth.

The system of instrumental sutras is referred to as “not wholly meaningful.” This system helps us to form a mundane wisdom by mindful awareness, by deeply meditating to recognize all traces of virtuous or harmful acts, good or bad deeds in order to positively transform one’ body, mind, and external environments, bringing about peace, freshness, joy and happiness for one’s ultimate existence.

The system of logical sutras is referred to as “wholly meaningful.” This system helps us to form a supra-mundane wisdom, i.e. living with our true and ever-existing nature, in order to widely break open all habits formulated by delusions. The Paramita Heart Sutra belongs to this logical system of sutras.

“Mind” is translated from the Sanskrit word “Hrdaya” or “Citta.” The mind of a sentient being has a broad meaning, but not beyond the deluding mind and the true mind. The deluding mind covers the two outcomes of good and bad. A good mind is helpful to increase and beneficial; a

bad mind tends to decrease and harmful. As a result, a good mind brings about good outcomes resulting in peace, joy, and happiness. A bad mind brings about bad outcomes resulting in sorrows, sufferings, and plenty of lamentations. Meanwhile, the true mind, also called the true nature or true Self, and the true Self is “non-dual.” Being non-dual, one “can’t use words to describe it, can’t use speech to discuss it, and can’t use thoughts to recognize it[iii].”  Therefore, one can only facilitate the manifestation of the true mind through a spiritual path; and not through a philosophical one using all falsely constructed concepts.

These are the goal and the mission that this sutra is aiming at, intending to assist the practitioner to go back and live with the indiscriminating mind, in order to restore his “non-dual” true Self.

The two words Prajna Paramita consists of “Prajna” and “Paramita.” Prajna is the ultimate wisdom, different than the mundane wisdom. Mundane wisdom is formulated from the emanating waves of the human brain, resulting in a narrowly limited subjectivity, i.e. formed from the interaction of senses, sense-objects, and consciousness.

Mundane wisdom is a falsely fabricated product of the judging mind, and hence bears the narrow subjectivity[iii], not the real true Self[iii].  Meanwhile, Perfect Wisdom is directly and totally experienced by the practitioner. This is the naturally quintessential wisdom of the True Mind. Simultaneously, it is quintessentially empty and transparently shines through the true nature of all things, not with the intermediary of the discriminating delusions. Without the intermediary of subjectively constructed views, any currently existence is inherently empty.

There is no counterpart word in the Chinese version for the Sanskrit word “prajna”; hence the translators had to create a new word by attaching the word “emptiness” to emphasize the real meaning of the “mind” and “wisdom.”  As a result, we have new phrases “mind of emptiness” or “wisdom of emptiness”, but that still does not truly reflect the real meaning inherent in the word “prajna”, and finally they have to reuse the sound-based Sanskrit word “Prajna” with an attached explanation.

The sastra masters temporarily divided Prajna into three parts:

  1. The text of Prajna
  2. The meditated real meaning of Prajna
  3. The truly-experienced nature of Prajna

Using the written words in sutras, sastras, or speeches to explain the meaning of Prajna, is referred to as “The text of Prajna.”

Via the text of Prajna, we successfully perceive the real meaning of Prajna, and then meditate on the true nature of all things, to clearly realize that all current existences are empty. That is referred to as “The meditated real meaning of Prajna.”

After meditating to the deepest meaning of Prajna, one suddenly experiences self-enlightenment, then is completely rid of all emotional and subjective views, his mind is suddenly open brightly and widely, and is absolutely free of boundaries[iii] between self – others, subjectively-viewed rightness and wrongness, internality – externality. At that time, the True Real Self manifests. That is referred to as “The truly-experienced nature of Prajna”, or “The foundation of Prajna.” The truly-experienced nature is the nature, the meditated real meaning is the use, the nature and the use are non-dual; because in the true nature, the indiscriminating wisdom permanently exists, and hence is also called total awareness.

“Paramita”, is translated into “reaching the other shore”, also translated as transcending birth/death (saved). Birth/death is analogous to being on this shore; Nibbàna is analogous to the other shore. Birth and death is for the deluding mind, while Nibbàna is for the True Mind. Ever since unlimited lives, we have lived in the mind of birth and death. Now using the True Mind to transparently shine through the true nature of all things, to help our own mind to escape all subjective and emotional views, our mind then transcends birth and death. On this shore, delusions are the causes, and sorrows and sufferings are the consequences. On the other shore, the realization that all subjective emotions that continuously change forms in our mind is the cause (sentient), and the mind that transcends all the bindings of emotions is the outcome (enlightened).

Sorrow or deliverance, birth-and-death or Nibbàna, the difference is from whether the mind is deluded or awakened. A mind that transcends subjective perceptions through meditation on Perfect Wisdom is called delivered (awakened). A mind tightly attached to sensual pleasures and emotions (of sentient beings) to be flown forever in births and deaths is called cycle-bound (in Samsàra). 

Utilizing the dharma teachings of conditional arising and human egolessness to transform bad deeds to good deeds, bad causes to good causes, is the mission of Theravada Buddhism. Utilizing the dharma realization of “here are sufferings, here are the causes of sufferings, here is the bliss after the cessation of sufferings, and here is the path from sufferings to the bliss” is the task of Theravada Buddhism. Here, the meditation’s topics are “body – feelings – mind – things.” Practicing the 37 dharma-aiding ways and reflecting on the two-way 12 causes-and-effects teaching are the cultivation of Theravada Buddhism. 

On the other hand, the task of Mahayana Buddhism is to deeply meditate on Perfect Wisdom, hence fulfilling “paramita” (reaching the other shore). “Paramita” is to go to the extreme using Perfect Wisdom, so when a task is cultivated to the extreme, the remaining tasks also reach the extreme, because there is only one True Mind. When the mind totally reaches the other shore, meaning achieving the natural quintessential mental state, it is also called fulfilling and quintessentially gone. Fulfilling is completely and totally awakened, quintessence is the all-pervading emptiness[iii].

The other shore is exactly the shore of awakening, hence the practitioner transcends the ten places of the sentient Awakened One (Bodhisattva), i.e. experiences the supra-enlightenment at the tenth level. The process of cultivation from the first place to the eighth one requires the practitioner to meditate to the extreme depth. Thank to the constant and deep cultivation on Perfect Wisdom, his mind experiences the extreme depth. His mind spontaneously eradicates and resolves all ego-based seeds, the practitioner transcends the running flow of emotional and subjective perceptions (deed’s power), experiencing total enlightenment, the true nature of Perfect Wisdom then manifests. So far, he achieves the effortlessly achieving virtue, and as a result, the binding chains of the inherent power from attachment to the Manas and Alaya (7th and 8th minds) are broken apart, the True Mind is then covering all over the universe.

Let us attempt to understand more about the Mind in order to realize its very important role in the quest for enlightenment and deliverance of sentient beings.

The mind consists of six types a follows:

1. The heart: That is the fleshy heart of a sentient being. Observed from the biological aspect, red blood from the heart flows out into all over the body to feed human cells, and then flows back to the heart after turning black to be cleaned. For the insentient being, it is the innermost part, e.g. the core of a tree.

2. Accumulating and triggering mind (citta): All seeds are accumulated into a sentient being’s mind (accumulated), then when all conditions are sufficiently gathered they are triggered to manifest (triggered). Accumulation is the holding and continuous connection, from a good, bad, or neutral previous concept; then correspondingly triggered into the following good, bad, or neutral concept. First, it is the accumulated cause, next it is the triggered consequence. It has all three characteristics of good, bad, and neutral. According to the Study of Minds, this mind is called “Alaya[iii].”

3. Ego-based mind (manas): This mind uses the subjective views of the alaya (accumulating and triggering mind) as the root cause for attachment to the human ego and to things. Due to its

clinging to subjective views, it leads to emotional and subjective attachments, also called the conscious sense, and also referred to as the dreaming with closed eyes, or Manas (mind).

4. Conditionally formed mind (manovijnana): Also called the judging mind, or discriminating mind[iii]. Its function is clinging to things, simultaneously to the first five senses and to the “manas” (the seventh mind) as well as to the “alaya” (the eighth mind). This is the sixth mind (the judging consciousness), one of the eight mental “kings”, also referred to as the dreaming with open eyes, or the mental architect.

5. The permanent true mind (hrdaya): That is the natural, quintessential, and true mind—unborn and undead. It is also called the Buddha Nature, the True-Self Mind of Quintessence, the Real Original Mind, the Authentically Pure Mind (unpolluted), the Real Formless Form, or the Mind Essence.

6.  The Essence-Condensed Mind: is the mind holding total essence of the sutra. For example, this Heart Sutra of Perfect Wisdom consisting of 262 words (T: counted from the Chinese version) is the sutra holding all the essential meaning from 600 volumes of the Great Version of Perfect Wisdom.

From the mental aspect, all psychological phenomena originate from the Mind. Therefore, in daily living activities, we have to use enlightening meditation to control our own mind, preventing all bad mental forms to manifest beyond control that lead to sorrows, sufferings, and lamentations. The mind is considered as a place to accumulate all seeds (good – bad – neutral), then upon conditions sufficiently interacted, these seeds sprout, generating a long chain of mixed of sorrows and happiness. The mind is also a place holding a shiningly bright gem (lighting jewel), shining days and nights hence also called the perceiving ability.

The mind mentioned in this heart sutra is exactly the original and natural wisdom that any sentient being has, also called the Heart Sutra of Perfect Wisdom. The Heart Sutra condenses all essential dharma teachings of the Great Version of Perfect Wisdom, aiming at helping us to recognize our Buddha Nature and live with It.

 

------------------------

 

[iii] Mahayana-Sraddhotpada Sastra formulated by Venerable Asvaghosa

[iii] It doesn’t have the ultimate value

[iii] It belongs to the deluding mind

[iii] The True Wisdom

[iii] “Fulfilling and quintessentially gone” is not death

[iii] The mind holding conditioning power, conditioned objects, and the attachment to ego-centered love

[iii] Relying on the conscious sense to perceive external things

-------------------------------

The Heart Sutra – Explanation of section 1

 

Original Text

1.Avalokiteshvara, the Bodhisattva of Compassion, while deeply meditating on Perfect Wisdom, fully realized that the five aggregates of human existence are essentially empty, and hence released herself from all forms of sufferings, pains, and yokes of misfortune.

 

 

I. Explaining vocabularies

 

1. Bodhisattva: This is from a Sanskrit word meaning an Enlightened sentient being, who fully realizes that various forms of sentiments of the illusory mind are continuously changing and becoming, and vows to universally and tirelessly all sentient beings.

2. Avalokitésvara: is referred to as Worldly-Sound-Deep Reflector, also called the self-help ability. Venerable Kumarajiva translated the word as “Worldly-Sound Deep Reflector.[iii]” Venerable Dharmaraksa translated it as “Worldly-Sound Light[iii].” Venerable Jnanagupta translated the word as “Worldly-Sound Deep Reflector[iii].” Venerable Hsuan translated it as “Deep Reflector on the Self Within” where “Avalokite” was translated as “deep reflecting” and “tésvara” as “the self within.” To deeply reflect is to unite the ability to perceive and the object to be perceived to be a single entity. Here, we use our ears to listen to the worldly sound. The ability to listen is the nature and the object to be listened to is the forms of all sounds. Deep reflection means the ability to perceive and the object to be perceived are not dual; i.e. to listen as the sound is truly listened, to see as the form is truly seen, to smell as the odor is truly smelled, to taste as the taste is truly tasted, and to touch as the object is truly touched, etc. Because we perceive existing objects as they truly are, Venerable Hsuan translated “tésvara” as “the true-Self.” Be with the true-Self when you come across the Five Aggregates, the Twelve Realms, the Eighteen Worlds, the Twelve Causes and Risings, the Four Noble Truths, with Wisdom and Achievement, or deeply reflecting on the true nature of all currently existing things. This is also the very art of effortlessly achieving virtue of Bodhisattvas. Thank to directly and

truly perceiving the truth in things currently manifested, the mind is not distorted by all subjective sentiments, by the narrow and limited views of the judging human brain[iii]. Avalokitésvara Bodhisattva has a special virtue to self-deliver with the art of turning inward and listening to the true Self, hence achieves the ability to clearly listen to the sound from any place. In the mean time, we sentient beings all listen via our “distorted subjective views” formed by brain’s waves, hence being narrow and subjective by delusions, which obstruct the True and Natural Perceiving Ability. Therefore we can not hear all sounds as they are, but merely the sounds subjectively discriminated by the mundane mind only.

3. Deep meditation: The autonomous function of the original perceiving ability is deep and mysterious; hence it transcends all subjective sentiments. The mind that transcends all subjective and discriminating sentiments and views is exactly the ability to transparently shine of Perfect Wisdom. 

4. Five aggregates (skandha): Aggregate means accumulation and separation, and also means a holding group. Five aggregates refer to the collection of body and mind, as well as phenomenal events. Five aggregates consist of a physical phenomenon “form” and four other mental phenomena: “feeling”, “thought”, “mental process”, and “consciousness.”

   a. “Form” aggregate (Rũpa-skandha): consists of five senses and five sense-objects, namely eyes and object to be seen, ears and sound to be heard, nose and odor to be smelled, tongue and taste to be tasted, body and object to be contacted; altogether various categories.

But, all physical elements by themselves are not sufficient to create the perception, if there is no discriminating consciousness to collaborate. From the ears, there is the perception of hearing; from the eyes the perception of seeing; from the nose the perception of smelling; from the tongue the perception of tasting; from the body the perception of contacting. The interaction with sense-objects is direct[iii].

Only when the conscious mind intervenes, there will be discrimination caused by the discriminating mind. This is the function of the conscious sense (the sixth sense), i.e. the consciousness combined with five senses and five sense-objects, altogether ten corresponding counterparts to form spoken and written language in the mind (things).

Consciousness combines with five external senses being eyes, ears, nose, tongue, body (physical earthly senses) plus the nervous system inside the brain (formless sense), then the discriminating mind manifests.

The first five senses being eyes, ears, nose, tongue, and body all have counterpart worldly object-senses, while the sixth sense also has its counterpart object which is the mental language

to form the discrimination. Consciousness transforms mental and physical elements into subjective psychological elements, to form four internal mental elements being feeling, thought, mental process, and consciousness. This discrimination completely bears the subjective characteristic of the human brain, hence doesn’t have an eternal value, neither a copy of the reality. Therefore, the more ignorance is there, the more ego-focused attachment is there, and much suffering is generated.

   b. “Feeling” aggregate (vedanã): or the sentiment of feeling, classified into three categories: pleasant feeling, unpleasant feeling, and neutral feeling (neither pleasant nor unpleasant feeling). From each of these three categories, the consciousness forms an internal psychological state of interesting, disinteresting, or neutral.

   c. “Thought” aggregate (samjnã-skandha): The consciousness forms a thought internally. Thoughts create the seeds[iii] to continuously generate the cycle of birth-death-and-rebirth (samsàra).

   d. “Mental process” aggregate (samkhãra-skandha): The mental process of internally forming and becoming is the condition for responding to the perception of sense-object; and at the same time is the marks or habits that continue forever of the consciousness. Mental process is precisely the flow of seeds for generating continuous manifestations. Therefore, it exists in the past and as well in the present (generating and becoming).

    e. “Consciousness” aggregate (vijnãna-skandha): It is the ability to perceive, to discriminate all things and phenomena, and hence also called the mental king; consisting of eight kinds: visual consciousness, hearing consciousness, smelling consciousness, tasting consciousness, contacting consciousness, perceiving consciousness, ‘manas’ or seventh consciousness, and ‘alaya’ or eighth consciousness.

    Both the external world and internal world are formed by the five aggregates. But five aggregates are always in the state of continuously changing (impermanence). The elements forming the form aggregate (physical body) and also the elements forming all mental phenomena are impermanent too. The physical body is going through birth, old age, sickness, and death. The external world is significantly changing, nothing is staying the same.

    The internal mental world is going through joy, sadness, love, hatred etc. It is in continuously changing state. This fact shows that five aggregates have two characteristics of unsubstantiated ego and impermanence, hence having no true-self and no real substance. Sentient beings in the sentiment realm and form realm are all formed by the five aggregates. Sentient beings in the formless realm are formed by feeling – thought – mental process – consciousness[iii].

5. Deliverance: The Sanskrit sound of this word is Vimoksa, Vimukti. To deliver is to free from all bindings, all attachments. Living in the three realms: Craving – Form – and Formless with the mind unaffected by Greed, Hatred, and Ignorance is said to be delivered from all craving defilements[iii]. Freeing one’s mind from all attachments is called being delivered. Once cleanly eradicated of all bindings of the discriminating mind, one is enjoying happiness and peace with no barriers whatsoever. One can attain this blissful state (Nibbàna) only via spiritual path, and not via philosophy, because it is beyond the reach of the discriminating mind.   

 

II. Understanding the content

 

This introductory sentence points directly at the complete egoless-ness by cleanly eradicating all attachments through deep meditation on Perfect Wisdom. Because Perfect Wisdom is the original and natural Wisdom in our mind and also referred to as the ability to perceive, hence by nature it transcends all subjective judgments. This True Mind deeply functions by itself in a mysterious way, hence escaping all worries, pains, and sufferings.

Thanks to the “deep meditation on Perfect Wisdom”, all subjective and earthly judgments or views are completely eradicated from ordinary sentient beings, to the followers of the Original Buddhism, up to the rank of Bodhisattvas. Because any kind of subjective-ness is completely cut off, they are not pushed and pulled by gain-loss, win-lose, praise-blame, fame-defame, and are referred to as “Attachment-free meditation (Avalokitésvara).” Bodhisattva is a Sanskrit word where “Bodhi” means awakened or enlightened, and “sattva” means sentient being. “Sentimentally attached” is caused by subjective sentiments, while “awakened” or “enlightened” is a characteristic of attachment-free True Mind. Once all emotional and subjective judgments are completely cut off, then awakening or enlightenment manifests, hence one is referred to as “Attachment-free meditation (Avalokitésvara).” “Awakened (Bodhi)” is the very reflection on the nature “as is” at the present of all things, and not through the judgment or analysis of the deluded mind. All emotional and subjective judgments (sentient beings) are formed by the deluded mind applying to the five aggregates (subjectively distorted views), hence creating a long chain of births and deaths, and from which sufferings arise.

 

When practitioners deeply and persistently meditate on the Emptiness, they can deliver themselves and as a result the motive to create sufferings and false views no longer exists, the natural and quintessential wisdom manifests, consequently escaping all sufferings and misfortunes. This mind is also called the mind of Emptiness, because it seems like an empty space, containing nothing but holding the whole universe within; it is similar to a mirror truthfully reflecting all happenings as they presently are. This mind exists naturally and constantly in each sentient being, without any attachment and hence also called the original and natural ability to perceive. From within this very nature, it so manifests, consequently not being bound by any sense-object and binding circumstances, hence it is called “Attachment-free meditation (Avalokitésvara).” Because Avalokitésvara can clearly shine through the true nature of all things, it is called the true nature of Wisdom. Being empty and egoless, this Wisdom realizes that five aggregates are empty, completely turns off delusions, and spontaneously breaks wide-open and bright. 

The Buddha taught, “Three Realms of existence are not outside of the Mind, all things are not outside of the consciousness.” Therefore, all forms that the mind attaches to are not formed outside the mind and the consciousness. Once delivered by the True Mind, the discriminating mind is untied; the bindings of subjective and emotional judgments based on the five aggregates break loose. Avalokitésvara or the True Mind then can hear as it truly hears, see as it truly sees, etc. but not through the reasoning with subjective and emotional reasons, hence achieving boundless peace and obstacle-free happiness.

Attachment-free meditation is the practice of deep and persistent meditation on perfect wisdom, hence consciousness transcends into wisdom because of “freedom from sense-object”, hence “senses” unite with the ability to perceive. “Realizing the five aggregates are empty” is through Perfect Wisdom, and not through the use of deluded mind to deny the reality. If using the deluded mind to deny reality, one falls into the view of nothingness, and hence remaining in the ego-centered thinking.

“Fully realized” implies that one clearly and directly perceives, deeply and clearly feels like a person drinking water and understanding perfectly well whether the water is cold or warm, without going through the intermediary of any thinking whatsoever, or any falsely constructed concepts whatsoever.

Five aggregates are five factors to form a life. The word “aggregate” is translated by Venerable Hsuan from the word “skandha.” On the other hand, Venerable Kumarajiva translated the word

as “shield” meaning covering. Previous translators translated the word as “collection”, meaning a gathering formed by many elements[iii]. Human beings can’t exist without five aggregates.

In the system of Nikaya Sutra, there is a solemn declaration of the egoless-ness of the five aggregates. Here the teaching of Perfect Wisdom of the Mahayana Buddhism merely confirms this nature of egoless-ness.

Body and mind are the combined entity of five aggregates and as a result, body is empty and mind is empty, meaning the formless entity and form are all empty. “Both the form and formless entity are empty” is the core content of the teaching of Perfect Wisdom via directly-experiencing realization, and not from the mental reasoning angle.

We have discussed the five aggregates in section “Explaining vocabularies.” Following is just an additional analysis.

1.Form aggregate: consists of four major elements namely: earth, water, wind, and fire.

2.Feeling aggregate: refers to all mental and physical feelings, consisting of unpleasant feeling, pleasant feeling, and neither pleasant nor unpleasant feeling (neutral).

3.Thought aggregate: refers to advanced thinking of human psychology that other living beings don’t have, or have at a lower form.

4. Mental process aggregate: refers to psychological phenomena pertaining to instinct or will power, or the inherent capacity of sentient beings (deed’s power). Mental process is the trace of former deeds carried along in the lower and advanced activities of human beings. Therefore, it played a critical role in the whole life of a person. Because of the continuity of the flow, the mental process aggregate has simultaneously involved the past and continued in the present.

5. Consciousness aggregate: refers to all awareness covering the knowledge in the perception of the internal world and external world that is the body and mind of a human being and its living environment.

Form aggregate pertains to the physical phenomenon, while the other four aggregates—feeling, thought, mental process, and consciousness—pertain to the mental phenomena. The combination of mental and physical phenomena forms human beings.

Within these five aggregates, the Brahmin’s theology and philosophy assert that there is a spiritual ego solemnly resided internally and ever unchanging, or an external spiritual entity controlling everything and also ever unchanging, and things are not controlled by the law of egoless-ness and the law of impermanence as taught by the Buddha.

In reality, there is nothing created from just one thing, also there is nothing ever unchanging, and also there is nothing by itself being unchanging which can create other things.

Buddhism is basically built on the reality that all things and phenomena are created by the concept of conditional arising, hence can’t accept such concept of “an unchanging internal self or an unchanging external spiritual entity.” Therefore, the asserting of sutras that the five aggregates are unsubstantiated is a reality of all mental and physical phenomena; referring to the concept of unsubstantiated of the egos of human beings and of all things. This very concept of egoless-ness of human being and things forms the foundation of the dharma of emptiness of the Perfect Wisdom.

With the dharma of Emptiness, the law of “Multi-level and multiple conditional arising of the Realm of All Elements” of the dharma of Avatamsaka sutra is developed to the extreme. It is a lively reality embodied by the “perfectly-intercommunicating Realm of All Elements.” Its nature is a self-functioning reality; hence all falsely constructed concepts of human mind can’t reach it. As a result, one can experience the ultimate consciousness only through the True Mind Within, and not via illusory thinking with the emanation of the waves of human brain, which is subjective with each brain, in order to formulate the system of philosophy based on logic.

Attachment-free Reflector (or Worldly Sound Deep Reflector, Avalokitésvera) is the name of this Bodhisattva, but at the same time is the way of meditation performed by this respected One. It is the name, the way, and also the ultimate nature of self-delivering of a respected sentient Bodhisattva. The name is based on the great virtue for naming, and simultaneously illustrates figuratively the wonderful function of the True Nature of each sentient being.

Avalokitésvara Bodhisattva is popularly worshipped in the East. Her virtue is to attentively and deeply listen to the suffering cries of sentient beings in the Samsàra and to save them, hence her virtue is that of loving-kindness. The suffering cries in this Samsàra is the sounds of the deepest heart. As a result, her saving by the art of “bounding back from the sound to listen to one’s True Nature”, meaning not to chase after these suffering sounds of the heart, but to come back to listen to one’s True and Quintessential Nature, and the “listened sounds” go to the emptiness. “Sense and sense-object both vanish” hence the true awareness manifests, the flow of births and deaths ends, and all sufferings and misfortunes are self-eliminated. That is the perfect deliverance from sufferings and the ultimate blessing of happiness. Therefore, Nibbàna is exactly the mental state when the suffering mind completely ceases, the ultimate bliss manifests (ecstatic joy). Because of this virtue, there exists in the public the following verse:

 

When the water is transparent, the moon is fully reflected

When one’s mind is quintessential, Avalokitésvara manifests.

 

Sufferings are classified into three categories:

  1. Sufferings originated from one’s body and mind: birth; old age; use of intoxicated materials, smoking cigarettes, chemically-processed foods, liquor, etc.  leading to misfortunes and sicknesses; death; unsatisfied desires; living together with ones one detests; separation from one’s loved ones; ill-balanced development of the body’s five aggregates.
  2. Sufferings originated from nature: Stormy flood, drought, destructive fire, earthquake, tsunami, etc.
  3. Sufferings originated from societies: conflicts between social classes, discontents among religions, too abusing government regime, invasion war, brotherhood killing, etc. Hence, when not yet completely free of ego-centered thinking, one must watch out: wherever there are physical or monetary assets, fame and social positions, there will easily be contradictions; and people very easily lose human nature!

Those sufferings are created by human mind still attached to the reality of substantiated ego of human being and of things. Once one uses Perfect Wisdom to fully realize that the five aggregates are unsubstantiated and truly empty, he frees himself from all delusions, and hence the judging mind completely ceases to function. Duality is eradicated; one experiences Perfect Enlightenment and consequently is totally delivered in presence of all circumstances, free of all sufferings and misfortunes.

This introduction covers the content of the dharma teaching of the Perfect Wisdom. The remaining sections only present additional content of the complete text of Perfect Wisdom in two aspects, spiritual and philosophical.

We may say that if the Heart Sutra of Perfect Wisdom consisting of 262 words can relate the complete essential meanings of the system of sutras of Perfect Wisdom consisting of 600 volumes, then this introductory section of 31 words once again condenses to the extreme the essence of the dharma teaching of Perfect Wisdom.

 

[iii] Taishò 9, p. 56

[iii] Taishò 9, p. 128

[iii] Taishò 9, p.191

[iii] Current existence is emptiness

[iii] Indiscriminating and direct perception

[iii] Mentally spoken or written words

[iii] It belongs to the mental world

[iii] Craving defilements are the binding ties

[iii] Falsely constructed by the timely collection of many conditions

--------------------------------

The Heart Sutra – Explanation of section 2

 Original Text

 

2. O Sariputta! Form is not different than emptiness, emptiness is not different than form, form is emptiness, and emptiness is form. Feeling, thought, mental process, and consciousness are also that way.

 

      I. Explaining vocabularies

 

1. Sariputra: This is a Sanskrit word. “Sari” is the name of a lady and “putra” means the son. Putting together, Sariputra is for addressing the son of the lady Sari, also considered as his name.

2. Emptiness: is translated from the Sanskrit word “sunyata.” Emptiness is a dynamically living energy embodying all phenomenal things, and is not “nothingness as opposed to existence.” All phenomenal things, being inherently controlled by Emptiness, are consequently impermanent and egoless, meaning unsubstantiated selves in human beings and in all things hence are also characterized by absolute “non-duality.”

Researches of nuclear physicists show that each quark[iii] (the tiniest basic element of matter) is simultaneously in each moment of the form of a particle and of the form of a wave of energy (form and emptiness are non-dual). Therefore, no phenomenon is by its nature stays ever unchanging; but all are affected by the law of selfless-ness and the law of impermanence, hence infinitely transform from one form to another.

Form and emptiness are non-dual, that is particle and wave are not two entities; hence all concepts falsely constructed by the judging mind can’t truly describe the “as is” reality.

 

II. Understanding the content

 

“Sari” is the name of the mother and “putra” means the son. Putting together the mother’s name and the word “son” is for addressing to Venerable Sariputra.

Venerable Sariputra is the Buddha’s disciple excelling in wisdom, hence is allowed by the Buddha to share half of the palace chamber. As a result, when teaching about the Perfect Wisdom, the Buddha naturally addresses Venerable Sariputra.

According to our previous explanation of the meaning of the five aggregates, the form aggregate pertains to material element, while the remaining four aggregates—namely feeling, thought, thinking process, and consciousness—pertain to mental elements. Mental elements are psychological phenomena, invisible and hence intangible, and by nature they change continuously. That is understandable. However, material element is a physical phenomenon and is formed by material (a form), so why is it not real?  Therefore, this paragraph of the sutra has to explain why the five aggregates are not real, meaning having unsubstantiated selves.

First, let’s discuss the “form” aggregate, i.e. material element. According to researches of nuclear physicists, each “tiniest article of matter[iii]”, within a second is simultaneously in the form of a particle and in the form of a wave of energy (a thought moment of birth and death), due to two characteristics of permanence and selfless-ness of an item. Consequently, all phenomenal things are mutually dependent in order to manifest; hence there is no phenomenon originating from a unique entity (God) to manifest.

Particle and wave are not two entities (non-duality), i.e. “form and emptiness are non-dual”, hence this Emptiness is not nothingness as opposed to existence; but it means “current existence is empty” in the context of “form-emptiness are non-dual.” Therefore, the sutra states, “Form is not different from emptiness, emptiness is not different from form, form is emptiness, emptiness is form.” Form and emptiness can’t independently manifest.

The remaining four aggregates are the same, meaning: feeling, thought, thinking process, and consciousness are not different than emptiness. Human beings are empty and all things are also empty, meaning non-dual.

“All (human beings and things) are empty” is the core content of the dharma-teachings of Mahayana Buddhism, and at the same time shows the universal and lively truth of all phenomena. All things are formulated from emptiness. Because all things are by nature empty, the mind consequently possesses naught. Because if there is any possession then this

possession will only reflect a “false realization through delusive and subjective views”; and it is by itself not a substantiated reality. Consequently, the substantiated reality can’t be attached to, and if it can be, it is merely an attachment to “subjectively and falsely constructed mental concepts”.

These very sentimental emotions of “me” and “mine” have tricked and shielded one’s wisdom, leading us to sufferings. Sufferings originate from our attachment to the shadow (delusion) as clinging to a scenting smell only. That is how sufferings are generated by the mind!

Consequently, any delusive mental discrimination is unreal, and the reality is “as is”, so duality is completely eradicated, Perfect Wisdom then manifests.

The true nature of Perfect Wisdom and the reality are both “non-dual” and hence are referred to as the “All-pervading and Singular Enlightening Consciousness” by the “Perfectly Intercommunicating Characteristic of All Elements” taught by the Buddha in the Diamond Sutra. Here the Buddha shows the “Ever Existing True Mind”, because True Wisdom inherently transcending time and space.   

------

[iii] The matter item closest to emptiness, almost transcending to emptiness or wave of energy

 

The Heart Sutra – Explanation of section 3

 

Original Text

 

3. O Sariputta! All things are essentially empty, no birth no death, no impurity no purity, no increase no decrease. Hence in EMPTINESS: there is no form, no feeling, no mental process, and no consciousness. There are no eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. There are no form, sound, smell, taste, touch, and thing. There is no limited vision of the visual consciousness. Even there is no limited judgment of the mental consciousness.

There is no ignorance; also there is no ending of ignorance. There is even no old age and death; also there is no ending of old age and death.

There is no suffering, origin of suffering, cessation of suffering, path to the cessation of suffering. There is no wisdom, also any attainment of wisdom. Because there is no attainment of anything, Bodhisattvas, relying on Perfect Wisdom, eradicate all mental obstacles. As there are no mental obstacles, there is no fear, Bodhisattvas are completely separated from all destructive delusions, transcending ultimately to Nibbàna.

I. Explaining vocabularies

 

1. Emptiness: is as explained previously. Emptiness is the true nature of all things, hence by itself it is completely separated from all delusive and subjective views.

 

II. Understanding the content

 

In previous paragraph, the Buddha clearly affirmed that “form and emptiness are non-dual” hence, one is completely separated from the judging mind. As all discriminating thoughts can’t be useful here, all “delusive and subjective views” are completely eradicated. When one’s mind is cleansed of these pairs “existence – nothingness, co-existence – co-nothingness, no existence – no nothingness”, the emptiness of all things will then manifest.

Thanks to the use of emptiness, i.e. the presently existing awareness, one can see as truly sees, hear as truly hears, smell as truly smells, etc. and is not tricked by the delusive mind because the True Mind exists before all things. Because Emptiness exists before all things, one transcends senses – sense-objects – consciousness[iii], transcends the Twelve Conditions of Cause-and-Effects, transcends the Four Noble Truths, transcends ordinary mind and achievements, cuts off from subjective and discriminating views[iii], hence is completely free of all confusions[iii], completely free of all destructive delusions[iii], and enjoys Nibbàna[iii].

Originated from the above principle of “non-duality”, the sutra presents us the process of how to achieve this “non-duality” with a broomstick “no” that automatically and cleanly sweeps away all five delusion-constructed views. The reasoning presented here is the “Eight No’s of the Middle Path”, aiming at revealing the “as is” reality of all things. Utilizing the absolute negation in order to assist one’s mind to escape all pairs of opposite sides; hence this negation goes beyond the negation or affirmation of “mundane wisdom[iii]”, consequently revealing one’s Buddha Nature.

Due to the fact that all things are egoless and impermanent, one can’t use his delusive mind to confirm what things are or to deny what they are not. Human true nature also is not the subjective delusive mind, hence is completely free of all affirmations or negations of the human mind, helping the True Mind to coincide into one with the reality through Perfect Wisdom. Experiencing the Truth by eight negations of the human mind, one experiences the “Ultimate Meaning of the Middle Path.” Therefore, via the “non-duality” wisdom of Mahayana Buddhism, “sorrows are Bodhi, Samsàra is Pure Land.”

On the other hand, the dharma-teachings of Theravada Buddhism are formulated based on mental and physical phenomena, and are sufficiently recorded in the system of Agama sutras, classified into three categories:

  1. Five aggregates: The elements forming a human being.
  2. Twelve places: The elements intermediary between a human being and the external world.
  3. Eighteen realms: All particular elements in the overall living environment of human beings.

The ultimate objective that human beings have to achieve is Wisdom. Deep meditation helps one to realize: here are sufferings, these are the causes of sufferings, this is the way to cease sufferings, and here is the peace and joy after the cessation of sufferings.

The Dharma-teaching formulated to cure the sufferings of body and mind is the Four Noble Truths through the view of the conditional arising (from the phenomenal aspect) and developed into the twelve-causation-and-becoming chain.

The twelve-causation-and-becoming chain is formed according to the following process: ignorance, mental process, perception, name-and-form, six senses, contact, feeling, desire, clinging, possession, birth, old age and death.

The Dharma teachings of Theravada Buddhism cultivated by deeply meditating on five aggregates, twelve places, twelve-causation-and-becoming chain, four noble truths, wisdom and attainment, are based on phenomenal aspects: body, feelings, mind, and things. Based on the four topics of meditation, the thirty seven Dharma-aids are formulated to dissolve and transform evil deeds to virtuous deeds.

On the other hand, the Dharma of Perfect Wisdom uses the reasoning of the “Eight No’s” to deny all falsely constructed things of the judging mind, to reveal the logic of Emptiness of the Self and Things to the absolute extreme, to openly release Buddha Nature. Therefore, this sutra section points out clearly that five aggregates, twelve places, eighteen realms, twelve-causation-and-becoming chain, four noble truths, wisdom and attainment are all falsely existing to reflect this fact: Human egos and all things are impermanent and unsubstantiated, hence the clinging to them is also merely the false view of the judging mind. Realizing this false view to resolve the motive of attachment to human ego of the judging mind is the mean of Theravada Buddhism.

Under the Perfect Wisdom of the Buddha, one’s ego and all things are empty, hence the wisdom of this judging mind is also empty and this attainment is also empty (no wisdom and no attainment of wisdom). The text of the Sutra uses the “no” to cleanly sweep away all emotional

and subjective attachments of the judging mind, hence duality is completely abolished, leading one straight to Nibbàna. This is the task of spirituality through deep meditation on Perfect Wisdom, and not the philosophical path with all falsely constructed views.

Because the nature of the true Self is empty, it experiences the “as is” reality by the perceiving wisdom, revealing Buddha Nature. Thank to the very meditation on Perfect Wisdom to the level of “no attainment” the mind becomes “fearful of absolutely nothing.” From ever since a long time ago, the judging mind has been dominated by subjective and emotional attachments to self and all things, similar to a bird imprisoned in a cage (obstacle), hence being worried and fearful of everything from everywhere (fear). The root cause of all obstacles is the doubt dominating and paralyzing one’s judging mind. Therefore, one always has fears originating from the mental architect carrying with it all flows of unlimited delusions.

Aimless and wild imaginations or open-eyes dreams (day dreams) are just the tasks of the judging mind. Meanwhile, illusions or closed-eyes dreams (night dreams) are just the delicate clinging to self-centered ego of the seventh consciousness (manas). Therefore, can we try to test ourselves whether we really meditate in depth on Perfect Wisdom, i.e. if our mind is cleanly rid of any doubt yet? Does our mind still have any craving for sensual pleasures? Is there still any fear? A mind meditating deeply on Perfect Wisdom consequently becomes “attaining nothing, desiring nothing, and fearful of nothing.”

Thanks to meditating on Perfect Wisdom, Avalokitésvara Bodhisattva transcends from the eighth spiritual place (the eighth-spiritual-ranked Bodhisattva) to the tenth, and then clearly realizing that five aggregates are all empty, subjective and emotional perceptions are eradicated and enlightening perception manifests. Consequently, there are no more obstacles whatsoever to the mind, escaping the cycle of doubt that ever since in the past has imprisoned Him. At the eighth spiritual location, one’s mind is freed from all delusions by the power of “effortless virtue”, creating transforming power, destroying the deep hollow of ignorance, attaining Wonderful Perception (the tenth spiritual location), unveiling the Buddha Nature.

After resolving the cycle of doubt the emotional perception is completely cut off, one’s mind becomes quintessential, hence there is no more fear, one attains fearless state.  From now on, delusive feelings evaporate, the wildly disturbing bad dreams lasting for generations have been annihilated, hence the Mighty Buddha confirmed: “birth ceases, death ceases, the heavy burden is put down, all needed to be done have been done, one won’t have come back to the birth and death cycle any more.” The True Mind, ever quintessential and ever shining manifests, clearly

understanding the true nature of all things, the practitioner freely enters the market, worry-free and empty-handed and spontaneously converting any sentient being.

-----------------------

[iii] 18 discriminating worlds

[iii]Completely separated from subjective and emotional views

[iii] Open-eyes dreaming, the fancy elaboration of the conscious mind

[iii] Closed-eyes dreaming, the clinging to the seeds of the seventh mind (manas)

[iii] The ultimate goal of Nibbàna

[iii] Sentient being’s understanding, borrowing many elements to form mental spoken and written words, volitional delusions

 

The Heart Sutra – Explanation section 4

 

Original Text

 

4. The Buddhas—past, present, and future—all rely on Perfect Wisdom, hence experience the Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment.

Beware that Perfect Wisdom is the great mantra, the ultimately bright mantra, the second to none mantra, the incomparable mantra. It has the power to annihilate all forms of sufferings, really and truthfully. Hence, it is called the Perfect Wisdom’s mantra.

It runs like this: Gate gate, parasamgate, bodhi svaha.

 

I. Explaining vocabularies

 

1. The Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment: is the sound-based translation of the Sanskrit phrase “Anutara – samyak – sambodhi.” Word by word, when translated into English: “A” is “no”, “nuttara” is “high”, “sam” is “right”, “yak” is “rank”, “bodhi” is “perfect enlightenment.” So the phrase refers to the highest, rightly ranked, justly perceiving enlightenment. That is Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment.

2. The great mantra: also called “dharani”. Mantra is the secret phrase of the Buddha helping us to dissolve the three deeds leading to deeply purified thought, body, and word[iii], consequently transcending delusions from the judging and discriminating mind.

3. The ultimately bright mantra: is the mantra helping one to attain great light to completely cleanse one of ignorance.

4. The second to none mantra: is the mantra helping the True Wisdom to manifest.

5. The incomparable mantra: is the mantra helping one’s mind to transcend all dual comparisons of self-based thinking.

II. Understanding the content

 

In this section, the sutra text once again affirms that “The Buddhas of the three periods—past, present, and future—all rely on the Perfect Wisdom to experience the Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment.” Beside Perfect Wisdom, there is no other path helping one’s mind to escape delusions. We can affirm once again that the Mahayana path is precisely the ultimate, transcending mind through the deep meditation on Perfect Wisdom.

One attains the ultimate wisdom through the spiritual path and not the philosophical one. Therefore, all Patriarchs in the past devoted all their times to the meditation (no text formulation) to pursue deliverance and enlightenment, but not wasting their times in the studies with the knowledge borrowed from people in the past, via text, status, and misleading diplomas.

“The Utmost, Ultimate, and Perfect Enlightenment” is the sound-based translation of the Sanskrit phrase “Anutara – samyak – sambodhi.” Translated into English, it means the incomparable, highest, and ultimate enlightenment. In the process of meditating on Perfect Wisdom for equanimity and deliverance, Bodhisattvas attained the ultimately highest spiritual position (the Buddha).

Mantra is a Sanskrit word. In narrow sense, it means ritual worshipping words which, when pronounced, have the effects of changing phenomena causing evil as well as good outcomes. In a large sense, it means the item creating the power of holding, and conserving all meaningful content, for generating all meritorious, and magnificently beneficial results. Mantra is one category of dharani.

There are four categories of dharani:

  1. Dharma dharani.
  2. Meaning dharani.
  3. Tolerance dharani.
  4. Mantra dharani.

In this Heart Sutra, the phrase “Gate gate, paragate, parasam gate, bodhi svaha” belongs to the mantra dharani. Great mantra means the magic mantra, having the power to assist the practitioner to transcend his deluding mind. Relying on the meditation on perfect wisdom, the practitioner’s mind transcends any subjective judgment; the wisdom of his original true nature manifests; hence “sorrow is bodhi, life-and-death cycle is Nibbàna” thanks to his mind being

“non-dual”; and as such, the mantra is called the magic mantra. This mantra of wisdom shines and destroys ignorance, drains the large sea of birth and death; and escapes the mental current of consciousness of insensitive and cold flows of becoming and destruction, full of sorrows, sufferings, and lamentations; and hence, the mantra is called the greatly illuminating mantra. Also thanks to this mantra of perfect wisdom, one experiences the incomparable, second-to-none wisdom; and as such, the mantra is called the utmost, ultimate mantra[iii].

Having such great meritorious effects, it is referred to as dharani. Because dharani is overall containing, i.e. covering all times and all spaces, and escapes both evils and virtues. Because dharani is wholly meaningful and succinct as such, its nature is of indiscriminating wisdom[iii], it can by itself resolve all activities of the mental process; its use is to transparently clarify the true nature of all things[iii]. Therefore, the Buddha praised and called this way of cultivation the magic mantra.

Thanks to this great power and wonderful effect, it can annihilate all sorrows and sufferings. Therefore, the sutra text once again affirms the statement is “truthful and not lying.” Here the wonderful effect is beyond debate and discussion; because one’s mind has transcended all subjective views, all spoken or written words cease, mental process dissolves”, and is symbolized by the secret words, “Ga te ga te, pa ra sam ga te, bo di so va ha,” i.e. explicitly manifesting the non-subjective and real perceiving wisdom.

Notice that there are some scholars, without deep meditation and hence not experiencing Perfect Wisdom, have delusively formulated the meaning of this magic mantra as “cross over cross over, cross to the other shore to experience Nibbàna.”

Triggering these deluding concepts, one brings his mind back to birth and death cycle, hence being further separated from Perfect Wisdom.

Because the mental process has ceased, one translates based on the sound, because the magic mantra in this sutra is neither dharma dharani, nor meaning dharani. Essentially, when reciting the mantra, one must have one-pointed attention, assuring “the three mystic items being harmoniously coordinated[iii]” then delusions will be attracted and annihilated in the indiscriminating mind. The transforming power of reciting mantra is the dissolution of all delusive conceptions. Delusions are completely eradicated by sweeping cleanly all subjective and emotional sentiments with the “No’s”, at that time True Wisdom will manifest, i.e. one attains the realm of Truth, of Nibbàna, and equanimity, hence called deliverance.

The wonderful effect of Perfect Wisdom helps us to be awakened days and nights, sufficiently powerful to transform by the power of “effortlessly-achieving virtue”, creating the

opportunity to be enlightened completely, going straight to the ultimate Nibbàna. Therefore, deep meditation on Perfect Wisdom is both a mean and the ultimate objective of Deliverance and Enlightenment. Practitioner, please understand it.

 

The end of “The Brief Explanation of The Heart Sutra”

 

References

 

  1. Prajna Paramita Sutra
  2. Lankavatara Sutra
  3. Surangama Sutra
  4. Vimalakirtinirdesa Sutra
  5. Gandavyuha Sutra
  6. Saddharma Pundarika Sutra (or The Wonderful Lotus Sutra)
  7. The Platform Sutra (or The Sixth Patriarch Sutra)
  8. Mahayana Sraddhotpada Sastra
  9. Trimsika Sastra (or The 30 Rituals on the Studies of the Mind)
  10. Mahayana Satadharmapraka Sastra (or The Sastra on the Hundreds Divisions of All Mental Qualities)
  11. Maha Prajna Paramita Sastra
  12. The Tao of Physics

--------------------------------------------------

[iii] Three mystic things (mind, body, and speech) all compatibly integrated

[iii] Nothing can be compared to

[iii] The Perfect Knowledge

[iii] The All-Knowing Knowledge (or Buddha Wisdom)

[iii] Three mystic items (body, speech, and mind)

 

Devotion page

 

With sincere and deep respect, we light the scent of the heart

To the Dharma Gems and all Venerable Buddhas residing

in all quarters of the universe. Respectfully and silently,

we express gratitude to our Monk Master and all

good teachers for their nourishing teachings. We

sincerely devote this meritorious work to all

sentient beings all over the universe

for their benefits.

 

Season of the Buddha’s Birthday 2555 

Bhikkhu Thich Minh Dien

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Bảy 2016(Xem: 1592)
Đối nghịch, mâu thuẫn là hiện tượng thường xảy ra trong đời sống. Khi không thể giải quyết, nó đưa đến thù ghét và chiến tranh. Từ ngày có con người trên trái đất cho đến ngày nay, chiến tranh chưa bao giờ chấm dứt.
19 Tháng Năm 2016(Xem: 2157)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20. Đây là một bộ Đại Tạng Kinh của Bắc truyền được tổng hợp cũng như sự giảo chánh của các nhà học giả Phật Giáo Nhật Bản lúc đương thời qua các bộ Minh Đại Tạng, Càn Long Đại Tạng v.v… Tổng cộng gồm 100 quyển, dày mỏng khác nhau, mỗi quyển độ 1.000 đến 1.500 trang khổ lớn. Cố Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh đã cho phiên dịch hoàn toàn sang tiếng Việt tại Đài Loan thành 203 cuốn(đã in được 93 cuốn), mỗi cuốn từ 800 đến 1.500 trang. Tổng cộng các bản dịch về Kinh, Luật, Luận của Đại Thừa không dưới 250.000 trang sách.
12 Tháng Năm 2016(Xem: 1935)
BÁT NHÃ BA LA MẬT là một trong những hệ tư tưởng của Đaị thừa Phật giáo Bắc tông. Bát Nhã Ba La Mật, Trung Hoa dịch: TRÍ TUỆ ĐÁO BỈ NGẠN. Thành ngữ đáo bỉ ngạn, chỉ cho sự viên vãn cứu kính, sự hoàn thành trọn vẹn về một lãnh vực tri thức, một công hạnh lợi tha, một sự giải thoát giác ngộ hoàn toàn..
19 Tháng Ba 2016(Xem: 2352)
Bịnh trầm kha của con người là thích tìm tòi những giải đáp thắc mắc cao siêu để thỏa mãn óc hiếu kỳ mà thiếu thực tế với đời sống, thích luận bàn những việc xa vời viễn vong không tưởng hơn là thực hành để đem lại an lành hạnh phúc bản thân. Chứng bịnh trầm kha nầy đã đẩy con người sống chơi vơi trong huyền đàm phiếm luận của thiết thực đến đời sống đạo đức tiến bộ. Vì vậy số người mang danh hành đạo thì nhiều mà chứng đạo thì gần như gợn mây mỏng trong bầu trời giáo pháp. Để tránh mắc phải bịnh năng thuyết bất năng hành, cổ đức đã khuyên: Muốn đạt thành tâm nguyện tiến bộ thì cần phải “tri hành hợp nhất, trí đức tương ưng”.
22 Tháng Ba 2016(Xem: 1526)
Tại thành Xá Vệ, vào buổi sáng sớm, Tỳ-kheo-ni Avalika khoác y ôm bình bát, đi vào thành Xá Vệ để khất thực. Khi Tỳ-kheo-ni đi khất thực ở thành Xá Vệ và trở về, sau bữa thọ trai của mình, Tỳ-kheo-ni đi đến vườn cây của ông Cấp-Cô-Độc để nghỉ vào ban ngày. Khi vào sâu trong vườn cây Cấp-Cô-Độc, Tỳ-kheo-ni ngồi xuống dưới một gốc cây để thiền quán.
02 Tháng Giêng 2016(Xem: 3148)
Kinh "Chiếc lưới ái ân" được dịch từ kinh Pháp Cú, Hán tạng. Chữ "ái ân" nằm ngay trong bài kệ thứ ba của kinh, câu “Nhân vi ân ái hoặc”. Trong kinh có sử dụng hình ảnh chiếc lưới để ví với sự mất tự do của một người khi bị vướng vào ái dục.