9. Lý Công Uẩn

26 Tháng Sáu 201816:09(Xem: 39)

THẦY TĂNG MỞ NƯỚC 
Nguyễn Quỳnh
 

LÝ CÔNG UẨN

- Khá, nhưng chưa được kín lắm.

- Xuống tấn thấp quá.

- Hay, miếng thoát bào nhượng vị.

Một cậu bé độ 8, 9 tuổi, nhưng to lớn bằng đứa trẻ 14, 15. Nước da đen sạm, mắt to, bận quần áo chẽn màu da cam, đang dạo mấy đường quyền ở sân chùa. Xung quanh bốn năm cậu bé cũng trạc tuổi ấy, đang chăm chú nhìn hai cánh tay cứng như thép vung lên hạ xuống mềm mại, dẻo dang. Vương Trọng Lâm đứng bên cạnh chỉ bảo những chỗ sai lầm. Cậu bé nhẩy thoăn thoắt, tiến lui có phương pháp, lúc sang hữu, đánh trên gạt dưới, giữa những tiếng xì xào khen ngợi của mấy vị tăng ngồi cạnh chậu lan, trước nhà tạo soạn. Bỗng cậu hét lên một tiếng, phi bộ tới cạnh một phiến đá kê ở góc sân dùng để đập lúa, to bằng một phần tư chiếc chiếu và nặng độ vài ba tạ. Cậu xuống tấn vững chắc, hai tay ôm lấy phiến đá nhấc bỗng lên chạy hết một vòng sân rồi đặt lại ở chỗ cũ.

- Hảo thần lực.

Mọi người vỗ tay ầm lên. Trọng Lâm gật gù nói :

- Đào Thiên Tường quả có sức mạnh vô địch.

Rồi chàng quay lại phía sau, lên tiếng gọi :

- Đào Tiến Thành ra biểu diễn một bài côn.

Một cậu bé mình bận bộ quần áo màu trắng, mặt đẹp như ngọc, trạc độ 11, 12 tuổi "dạ" một tiếng rồi nhẩy vọt ra giữa sân, vung côn múa một hồi. Mọi người thì thào khen đường côn mạnh và kín đáo. Đi hết bài cậu thu côn lại, về đứng chỗ cũ, sắc mặt không hề biến đổi.

Trọng Lâm vui vẻ gọi to :

- Lý Công Uẩn.

Một cậu bé thân hình nhỏ nhắn trạc độ 8, 9 tuổi, lụng thụng trong bộ nâu sồng đã bạc màu, tay cầm một thanh kiếm tiến ra giữa sân. Cậu hướng mặt về phía mặt trời, đôi mắt đen lay láy nhìn thẳng vầng thái dương, một nụ cười xinh xắn nở trên cặp môi đỏ. Rồi vụt một cái, nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, cậu nhẩy ba bước, chém dứ ba nhát, rồi vung gươm đi một bài. Trước còn chậm, sau dần dần nhanh, rồi thì chỉ còn trông thấy một đường ánh sáng bao bọc lấy mình. Sư Trưởng gật gù khen :

- Thật là tuyệt diệu !

Lý Công Uẩn đi hết bài, lui về chỗ cũ. Lần lượt đến các cậu kia, mỗi cậu biễu diễn một tài nghệ. Xong giờ diễn võ, mọi người đều giải tán. Trọng Lâm mặc áo, rồi bảo tên gia nhân đứng bên cạnh :

- Nhà ngươi đã sửa soạn xong chưa ?

- Bẩm xong rồi.

Vạn Hạnh cầm tay Trọng Lâm nói :

- Hiền đệ nhất định về thật à ?

- Vâng.

- Sang tháng, độ ngoài mồng mười, hiền đệ nhớ sang ăn giỗ sư huynh Lý Khánh Vân.

- Nếu không việc gì ngăn trở thì xin y hẹn.

- Hiền đệ gặp Kim Chung thì nói ta gửi lời hỏi thăm. Đứa cháu ngoại của hắn đã được Lý Khánh Vân nhận làm con nuôi và đặt tên là Lý Công Uẩn. Khi Khánh Vân lâm chung có giao cho ta trông nom, dạy bảo, sau này ta sẽ gây dựng cho.

- Sư phụ xem Lý Công Uẩn thế nào ?

- Sự nghiệp của hắn về sau rực rỡ vô cùng. Đến như Tiến Thành kia tương lai dẫu có khá thật nhưng so với hắn chỉ như gà con đứng bên con phượng.

- Đào Thiên Tường con ai ?

- Là con Tư Chiềng. Nguyên Đào Cam Mộc yêu tài, chuộng nết Tư Chiềng, nên cưới vợ cho. Lúc vợ đẻ con đầu lòng, thì đổi họ và đặt tên là Đào Thiên Tường. Cách đây 3 tháng, Tư Chiềng được triệu về kinh, xung vào đạo quân túc vệ của Đại Hành Hoàng Đế.

- Đào Cam Mộc giữ chức gì trong triều ?

- Thấy nói hắn được đức Kim Thượng phong cho chức Cửu Môn Đề Đốc thống lĩnh cả một đạo quân túc vệ.

- Đào Cam Mộc là người thế nào ?

- Hắn có tài nguyên nhung, nhưng nếu cho thống lĩnh cả binh quyền thì có thể làm loạn được.

- Tôi xem Kim Chung văn chương lỗi lạc, tính tình hào sảng, đáng được phú quý, sao sự nghiệp lại chẳng có gì ?

- Kim Chung không phải là người có thể giao phó cho những công việc to tát được. Hắn không biết quyền biến, cương nhu không phải lúc. Chỉ có thể làm anh đồ ngâm thơ, tán láo thì được.

- Hắn còn thắc mắc về đứa cháu ngoại, hay ta đem trả hắn đứa cháu, cho ông cháu gặp nhau.

- Số kiếp của hắn cũng sắp hết rồi, dẫu có muốn gặp cũng không được.

Bấy giờ đã quá ngọ. Trọng Lâm sợ muộn vội lên ngựa từ tạ ra đi. Vạn Hạnh nhìn mãi đến khi thấy bóng ngựa khuất sau luỹ tre mới quay trở vào.

Lại nói bọn Lý Công Uẩn tập võ nghệ xong, rủ nhau ra hồ tắm. Cái hồ này rộng ước độ một mẫu, cách chùa Tiên Du độ vài dặm đường, vốn là một nguồn lợi cho bọn thuyền chài.

Trên bờ cỏ mọc um tùm, những túp lều đánh cá thấp lụp xụp như cố muốn vượt khỏi đám lau sậy để phô trương những mái tranh xam xám, tiều tuỵ dưới ánh nắng mặt trời. Mặt hồ phẳng lặng, lác đác mấy con thuyền nửa ẩn nửa hiện sau vòm lá rũ trên bờ. Trên chiếc cầu tre rung rinh dưới mỗi bước chân, một bọn đàn bà đang giặt quần áo, tiếng cười nói ầm ĩ, giữa cái cảnh tịch mịch của cây cỏ.

Đào Thiên Tường đi đầu, tay cầm một cái rổ đựng quần áo. Cậu bé trông thấy bọn đàn bà đang đùa nghịch, liền quắc mắt nói :

- Tránh xa ra, không biết xấu.

Có tiếng đáp lại :

- Thằng bé con cái nhà ai mà mất dạy quá như vậy.

Thiên Tường nổi giận quát to :

- Cụ tổ mày mà mày không nhận ra à ?

Bọn đàn bà cũng tức giận quát lại :

- Ranh con chưa ráo máu đầu mà hỗn như gấu. Coi chừng bị xẻo lưỡi bây giờ.

Quách Chí vốn tính ngỗ nghịch, bèn nhặt hòn đá ném thẳng xuống cầu, trúng vào cánh tay một cô con gái. Bọn đàn bà cũng không vừa, hè nhau nhẩy lên bờ xông vào đánh. Nguyên bọn này là vợ con thuyền chài. người nào cũng khoẻ mạnh và biết võ nghệ, khét tiếng là đáo để, ai cũng phải sợ. Chúng cậy đông người, gây sự với dân chúng trong làng, sinh ra những cuộc ấu đả đổ máu là thường.

Nếu có sự xích mích với dân, chúng kéo nhau lên huyện, khóc lóc kêu là bị bắt nạt, và viện cớ này cớ khác đổ lỗi cho mọi người. Huyện quan thấy chúng quần áo rách rưới, mặt mũi lem luốc, tình cảnh có vẻ đáng thương thì tin là chúng nói thực; lại trách mắng các xã trưởng không khuyên răn con em và an ủi chúng.

Bọn thuyền chài được thể, càng lên mặt, trực tiếp ngăn trở dân làng không cho đánh cá ở hồ bằng cách cho đàn bà, con trẻ ra gây sự với bất cứ người nào lảng vảng quanh đó. Dân chúng bị uy hiếp nhưng không dám nói, sợ bị huyện quan quở mắng, nên đành để mặc bọn thuyền chài độc quyền hưởng mối lợi. Nhất là từ khi viên Huyện Lệnh mới về nhậm chức, chúng cho người lên đút lót lấy lòng, rồi ngang nhiên hoành hành không còn kiêng nể gì cả. Những trận ấu đả kịch liệt xảy ra hằng ngày, mà phần thắng lợi bao giờ cũng về tay bọn thuyền chài, vì chúng toàn là những tay dũng cảm.

Một sự ngẫu nhiên, chúng chạm trán với bọn tiểu anh hùng, để nhận lấy một bài học đích đáng về cách xử thế.

Lâm Đồng thấy bọn đàn bà hăm hở kéo lên bờ, vỗ tay cười ầm lên nói :

- Anh em ơi ! Chúng ta lại có dịp ôn lại mấy đường quyền.

Chỉ có Tiến Thành, Công Uẩn là đứng ngoài vòng chiến. Còn Thiên Tường, Quách Chí, Lâm Đồng, Hoàng Công Nghĩa đều một loạt xông vào, cử quyền đánh tới tấp. Bọn đàn bà tuy đông và khoẻ, nhưng địch sao nổi bốn chú hổ con, cho nên mới chỉ có vài hiệp mà đã bị đả thương, kêu la ầm ĩ.

Tiến Thành trông thấy ái ngại, vội hô anh em dừng tay. Ngay lúc ấy, bỗng đâu nhô ra một bọn độ hai ba chục đàn ông lực lưỡng, người nào cũng đóng khố, cởi trần, rồi những tiếng quát như lệnh vỡ vang dội cả một vùng.

- Tụi ôn con dám vuốt râu hùm !

Công Uẩn thấy viện binh của địch đã tới, liền hô Tiến Thành xông vào ứng chiến. Mới đầu bọn đàn ông còn khinh thường các cậu nhỏ, chúng tưởng mười phần ăn chắc cả mười, nên chỉ đánh cầm chừng, không nở dùng độc thủ. Nào ngờ, đánh đã lâu mà vẫn không hạ nổi. Dùng hết tài nghệ mà tụi ôn con không nao núng. Những cánh tay thép đánh tả, gạt hữu, tiến lui có quy cũ, chân bước thoăn thoắt, nhanh nhẹn dị thường.

Bọn đàn ông mồ hôi toát ra bóng nhoáng như mỡ, mồm thở hồng hộc, đường quyền rời rạc, tiến lui mất cả trật tự.

Tiến Thành thấy địch thủ núng thế, cả mừng gọi :

- Anh em đừng để tên nào chạy thoát.

Vừa dứt lời, cậu phi chân đá trúng một tên ngã chúi vào một bụi cây.

Huỵch…huỵch…huỵch… Tiếp theo những tiếng kêu rống lên như lợn bị chọc tiết, bốn năm tên đã nằm sóng soài trên mặt đất. Năm sáu tên ù té chạy, nhẩy ùm xuống nước trốn mất. Những tên còn lại cố dùng tàn lực đở gạt qua loa, nhưng rút cuộc đều bị đánh ngã lăn lông lốc như khúc gỗ.

Dân làng kéo đến xem đông như kiến cỏ. Ai nấy đều vỗ tay, nhẩy nhót hoan hô ầm ĩ. Xã trưởng rẻ đám đông ra, đứng nói phân bua :

- Việc này rất can hệ, tôi không dám dấu huyện quan. Xin các người làm chứng để tôi lập biên bản.

Ai nấy đều giơ tay biểu đồng tình.

Xã trưởng lên tiếng :

- Hương dũng đâu ?

- Có chúng tôi.

Hơn mười người trai tráng chạy lại, khoanh tay đứng.

Xã trưởng truyền lệnh :

- Các chú xem ai bị thương nặng thì cáng lên huyện. Còn nhẹ thì dẫn đi sau. Kẻ nào cưỡng mệnh thì cứ trói lại bắt đi.

Đoạn quay lại tủm tỉm cười hỏi Công Uẩn :

- Còn các cậu này, xin các cậu cho biết nguyên nhân cuộc xung đột để tôi bẩm chuyện.

Thiên Tường không đợi Công Uẩn trả lời, quắc mắt nói :

- Các anh tưởng ta sợ quan huyện của các anh lắm sao ? Bọn kia lếu láo thì đánh cho biết tay, dẫu đi đến đâu ta cũng có cách nói.

Xã trưởng nhũn nhặn đáp :

- Bọn thuyền chài xưa nay vẫn ỷ thế ức hiếp người. Các cậu giàu lòng nghĩa hiệp, trị kẻ cường bạo, chúng tôi cảm tạ vô cùng. Việc trình quan là trách nhiệm của dân xã, các cậu có tội gì mà sợ.

Tiến Thành tiếp lời :

- Chúng tôi là học trò của sư trưởng Vạn Hạnh, các ông có hỏi điều gì thì xin đến chùa Tiêu Sơn.

Xã trưởng nhìn Tiến Thành ngờ ngợ một lúc rồi nói :

- Cậu này có phải là lệnh lang của Đào ân nhân không ?

- Phải.

- Thảo nào, mà võ nghệ giỏi thế.

Tiến Thành lại chỉ Thiên Tường nói :

- Cậu này là con của hổ tướng Tư Chiềng.

Ai nấy đều lắc đầu, lè lưỡi thì thào với nhau :

"Trêu vào bọn này thì tù mọt gông". Mặc cho dân làng bàn tán, Lý Công Uẩn bấm các anh em ra một chỗ, rồi nói :

- Dù sao chúng ta cũng có lỗi, tính thế nào bây giờ ?

Tiến Thành đáp :

- Không ngại, Huyện Lệnh còn phải nể mặt thân phụ tôi, không dám bắt tội chúng ta đâu.

- Còn sư phụ ?

- Sư phụ ắt phải bênh chúng ta. Bất quá một trận đòn là xong hết.

Quách Chí thêm một câu :

- Nếu Huyện Lệnh trở mặt bắt ta. Chúng ta nện cho một trận, rồi kéo nhau về Hoa Lư tìm Đào bá phụ giải cứu.

Công Uẩn gạt đi, nói :

- Lỗ mãng thế không được. Huyện Lệnh là mệnh quan của triều đình, ta làm thế có lỗi với Đức Kim Thượng, và liên luỵ đến Đào bá phụ. Thôi về chùa đã rồi sẽ liệu.

Bọn anh hùng rủ nhau về. Dân làng cũng giải tán. Trên con đường lên huyện, 5, 6 cái cáng nối đuôi nhau thong dong đi dưới ánh nắng nhạt của chiều tà.

° ° °

Sáng hôm sau, nhằm lúc Vạn Hạnh đang dạy học, bỗng thấy một công sai cưỡi ngựa đi thẳng vào sân chùa. Tiếng vó ngựa lộp cộp trên nền gạch làm mọi người ngẩng đầu lên. Thoáng thấy tên lính bọn Lý Công Uẩn tái mặt nhìn nhau, yên lặng. Người lính nhẩy xuống buộc ngựa vào gốc cau, giơ cao thẻ bài, gọi :

- Lệnh đòi sư trưởng Vạn Hạnh lên huyện có việc cơ mật.

Nguyên từ khi vua Lê Đại Hành lên ngôi, sửa đổi việc cai trị, ấn định quyền hạn của cơ quan hành chính và bắt buộc các công sai mang mệnh lệnh của triều đình phải có thẻ bài làm tin. Thẻ bài to độ bằng hai bàn tay sơn đỏ có khắc hai chữ "thiên phúc". Chỉ trừ có những trường hợp đặc biệt, huyện quan mới dùng đến thẻ bài. Công sai đi bắt tội nhân phải giơ thẻ bài, tượng trưng uy quyền của triều đình; kẻ nào cưỡng lệnh có thể bị đánh chết ngay tại chỗ, bất phân phải trái. Đó là trường hợp các trọng phạm có thể coi như rất nguy hiểm cho sự an ninh. Còn như đối với các thường phạm thì huyện quan chỉ cần sắc cho xã trưởng thân dẫn lên huyện là đủ.

Nhưng tại sao đối với một vị đạo đức cao tăng như Vạn Hạnh mà huyện quan lại phải dùng đến thẻ bài để bắt ? Thật là một việc khó hiểu.

Hãy nói chiều hôm trước, khi 6 cái cáng lên tới huyện An Phong thì trời đã tối mịt. Hạt An Phong từ triều vua Lê Đại Hành đã có một vị Huyện Lệnh riêng. Huyện quan tên là Thi Tất Long vốn là nho sĩ xuất thân, tánh nhút nhát, và không quả quyết, chỉ dựa vào dư luận của nha thuộc mà làm việc. Thấy lính vào báo có vụ đánh nhau đổ máu rất quan trọng, Huyện Lệnh vội sai thắp đèn và thăng đường. Lính dẫn ba người đàn bà mặt mũi thâm tím vào quỳ trước công đường. Còn 6 người đàn ông bị thương không dậy được thì tạm để nằm trong nhà giam. Thi Tất Long tự hỏi cung :

- Sự thể ra sao, các người khai cho thực.

Một người đàn bà sụt sùi khóc, thưa rằng :

- Trình quan, chúng con là thuyền chài sinh sống ở ven hồ. Thường bị dân làng chung quanh của ba xã Vân Lang, Kim Động, Lạc Thành bắt nạt. Chúng con thân phận kém hèn, chỉ biết an phận thủ thường, không dám tranh dành hơn kém với ai cả. Không ngờ buổi trưa hôm nay, dân làng ba xã đem người ở chùa Tiêu Sơn bắt chúng con phải di cư đi nơi khác, và đánh đập chúng con rất tàn nhẫn. Xin thượng quan minh xét cho.

- Xã trưởng Kim Động đâu ?

- Dạ.

- Sao các người cậy đông bắt nạt bọn thuyền chài ?

- Trình quan, bọn thuyền chài gây sự đánh nhau với mấy cậu bé học trò của sư trưởng Vạn Hạnh, chúng con thật quả không biết một tí gì.

Thi Tất Long đập bàn quát :

- Nhà ngươi nói vô lý, mấy tên học trò ranh con mà áp đảo được tụi thuyền chài sao ?

- Quả như vậy, chúng con không dám khai man.

- Chúng bay kéo bè đảng ức hiếp kẻ thế cô, không dùng đến hình phạt không được. Quân bay đét cho nó hai chục roi.

Quân lính dạ ran, vật cổ xã trưởng xuống, lấy roi song quất một chập, bật máu tươi hai mông ra mới thôi, rồi khiêng xuống để ở nhà giam. Đến lượt hai xã trưởng Vân Lang và Lạc Thành cũng chung số phận.

Xong việc hình phạt, Huyện Lệnh tống cả xuống đề lao, rồi nghĩ kế với nha lại.

Một người nói :

- Việc này tôi đã hiểu đôi chút. Đã gọi là đánh nhau thì hai bên đều phải xây xát mới phải. Có lý nào chỉ có một bên bị thương, còn bên kia không ai việc gì, thì lạ quá! Xét cho đúng ra thì cuộc xung đột này có lẻ không phải xẩy ra giữa bọn thuyền chài với dân làng, mà giữa bọn thuyền chài với bọn đồ đệ của Vạn Hạnh. Nhưng Vạn Hạnh xưa nay chỉ giảng kinh sách, chuyên về văn chương chứ có dạy võ ai bao giờ đâu. Vậy thì một bọn người ở Tiêu Sơn đó rất có thể là những khách thương quen biết với Vạn Hạnh, họ vẫn dùng chùa làm nơi tạm trú. Dân làng của ba xã, xưa nayhiềm khích với bọn thuyền chài, lợi dụng đoàn khách thương kia để kiềm chế thù nhân.

Thi Tất Long gật đầu cho lời bàn là phải. Người đó tiếp luôn :

- Nếu phải là khách thương thì ta không đáng quan tâm lắm, nhưng tôi ngờ là đồng đảng của Đinh Diên, Nguyễn Bặc, đi các noi ngấm ngầm hoạt động chống lại họ Lê, để báo thù cho chủ và nếu thời cơ cho phép, cướp lại chính quyền cho họ Đinh. Một bằng chứng đã tố cáo hình tích của họ là cuộc xung đột vừa rồi với bọn thuyền chài. Tuy bọn này dũng cảm có thừa mà còn bị họ đánh chạy thất điên, bát đảo, thì đủ biết bọn họ không phải là những khách thương chuyên nghiệp, mà là những chiến sĩ tài nghệ siêu phàm.

Huyện Lệnh ngồi thừ mặt ra một lúc, rồi mới cất tiếng hỏi :

- Vậy ở trong trường hợp này, ta phải đối phó bằng cách nào ?

- Sáng mai, một mặt ta huy động quân sĩ vây chùa Tiêu Sơn, không cho một ai ra thoát. Một mặt cho công sai mang thẻ bài về bắt Vạn Hạnh, và các người trong chùa. Nếu kẻ nào kháng cự thì cho phép dùng tên nỏ bắn chết.

Thi Tất Long là người nhu nhược, lại không có định kiến rõ ràng gì về việc này, nên lập tức cho thi hành theo mưu kế.

Lại nói Vạn Hạnh thấy công sai mang thẻ bài bắt mình, sắc mặt không hề thay đổi, ung dung ra sân quỳ xuống đón thẻ bài, rồi hỏi :

- Bần tăng một đời người chỉ biết tụng kinh niệm Phật. Không biết phạm tội gì để phiền các hạ phải vất vả đến chùa ? Tên công sai không nói, thổi hiệu còi. Một toán nấp sau chùa kéo vào trói nghiến Vạn Hạnh rồi đi lục soát khắp nơi. Ngoài mấy cậu nhỏ ê…a…học bài và bà hộ thổi cơm dưới bếp, thì không còn người nào lạ mặt cả.

Thiên Tường thấy sư phụ bị trói, nổi giận, toan chạy ra làm dữ, nhưng Tiến Thành là người tinh tế, vội ngăn lại khẻ nói :

- Nếu anh hành hung tên công sai thì có lỗi. Ta hãy nhẫn nại chờ xem kết quả ra sao.

Toán lính thấy không có gì đáng khả nghi, liền dẫn Vạn Hạnh đi. Bọn Lý Công Uẩn bảo nhau cùng theo lên huyện. Tên công sai vẫy tay bảo :

- Không việc gì đến các chú nhỏ. Thôi cho ở lại.

Công Uẩn ung dung trả lời :

- Thầy trò ở với nhau bao lâu, tình thân như ruột thịt. Nay thầy lâm nạn, bọn chúng tôi nguyện chung số phận cùng thầy, sống chết có nhau, sướng khổ cùng chịu, há như ai mà bội nghĩa quên ơn sao được.

Vừa tới huyện đã có lệnh truyền giải cả vào công đường để đối chất. Thoạt thấy một vị sư và năm sáu đứa con trai trạc độ 9, 10 tuổi, Thi Tất Long ngạc nhiên hỏi công sai :

- Trong chùa không còn người đàn ông nào nữa à ?

- Bẩm không.

- Có lẻ chúng chạy thoát mất rồi.

- Bẩm, chúng tôi đã hỏi các điếm canh, thảy đều trả lời không có một người đàn ông nào đi qua cả.

Huyện Lệnh hỏi mấy người đàn bà :

- Các người có nhận được mặt những tên đã hành hung hôm qua không ?

Một người chỉ tay thưa :

- Chính các cậu bé này đã đánh chúng con.

Thi Tất Long ngạc nhiên trố mắt nhìn bọn Công Uẩn, rồi đập bàn quát :

- Con mụ này miệng lưỡi đảo điên thật ! Dám khinh nhờn pháp luật, cả gan trêu ghẹo cả bản chức. Quân bay đâu, mang hình cụ ra đây.

Bọn đàn bà quỳ xuống khóc ầm lên rồi nói :

- Chúng con không dám khai man, mấy cậu nhỏ này trông thế mà khoẻ mạnh vô cùng. Chúng con may chạy thoát được thiếu chút nữa thì mạng vong.

Huyện Lệnh hỏi Vạn Hạnh :

- Việc này rất hồ đồ. Bản chức khó tin quá. Không lẻ mấy tên tiểu đồng kia sức không trói nổi con gà, mà đánh bại được tụi thuyền chài đông gấp bội. Sự thể ra sao, nhờ thầy khai rõ cho bản chức được tường.

Vạn Hạnh thực thà thưa rằng :

- Bẩm quan, bần tăng quả không biết gì về việc đồ đệ đã hành hung bọn thuyền chài. Tụi nhỏ này vốn tính ngỗ nghịch hay gây sự đánh nhau. Bần tăng đã nhiều lần răn bảo, nhưng chúng vẫn không chừa. Xin thượng quan lấy quyền pháp luật trừng phạt chúng thật nặng để làm gương cho kẻ khác.

- Sư trưởng đã biết chúng ngỗ nghịch, sao lại truyền võ nghệ cho chúng làm gì ?

- Bẩm đó là lỗi của Đào Huyện Lệnh.

Thi Tất Long ngạc nhiên hỏi luôn :

- Đào Huyện Lệnh nào ?

- Thưa, mấy tên nhỏ này là con cháu của Đề Đốc Đào Cam Mộc theo bần tăng học được vài năm nay. Chúng đều là những tay võ nghệ siêu quần, không nói gì đến mấy tên thuyền chài vô dụng, ngay cả một đội quân cũng chưa chắc áp đảo nổi chúng.

Thi Tất Long tự nghĩ :

"Đào Cam Mộc hiện nay đang được Kim Thượng sũng ái, lại là bạn đồng liêu của ta. Nếu ta thẳng tay trị tội con cháu hắn, thì sợ gây ác cảm với hắn mà có khi liên luỵ vào thân. Tội phạm đã rõ rệt mà ngơ đi, làm dân chúng ta thán là ta thiên vị. Thật là tiến thoái lưỡng nan; không biết dùng cách gì để thu xếp việc này cho ổn thoả".

Đang lúc phân vân thì chợt nghĩ được một mẹo, cất tiếng hỏi :

- Trong bọn ấu sinh, tên nào là con của Đào Đề Đốc ?

Tiến Thành "dạ" một tiếng rồi bước ra quỳ giữa công đường.

Thi Tất Long đổi nét mặt nghiêm nghị nói :

- Mày đã đọc sách, hà không hiểu đánh người là có lỗi hay sao ?

Tiến Thành cúi đầu đáp :

- Chúng con ít tuổi, nông nổi trót làm liều. Xin lượng trên tha thứ cho.

Huyện Lệnh có vẻ hài lòng, gật đầu nói :

- Ta xét hai bên đều có lỗi cả. Bọn ngươi là con cháu quý gia, thế tộc, đã từng đọc sách mà không biết giữ lễ, ra đường gây sự đánh người bị thương, lẻ phải phạt đòn và bắt tội thân nhân. Nhưng ta thương vì trẻ người non dạ, không nở ra hình, chỉ phạt Vạn hạnh bồi thường cho nguyên đơn 5 lượng bạc, để thêm vào tiền thuốc men cho những người bị thương. Bọn thuyền chài cậy bè đảng quen thói ức hiếp dân làng, kể tội thì phải thích chữ vào mặt, phát phối xung quân. Hiện nay đa số đã bị thương, ta không nở làm vậy, nhưng giao cho các xã trưởng của ba làng phải xem xét đến hành vi của chúng, và ngăn cản những kẻ ngoan cố khỏi làm bậy. Lần sau tái phạm ta sẽ nghiêm trị.

Mọi người đều cúi đầu vâng lệnh.

Đoạn Tất Long gọi bọn Tiến Thành ra khuyên nhủ :

- Các con nên chăm chỉ học hành, chớ ỷ thế ông cha mà làm điều càn dỡ. Pháp luật của triều đình đặt ra là cốt để trị tội những kẻ xằng bậy. Các con dẫu là dòng dõi quý tộc, nhưng làm trái cũng không thể tha thứ được. Lần này ta nể Đào Đề Đốc, không nở làm tội. Nếu các con biết nghĩ đến tương lai, hãy trau dồi đức hạnh, thì thật là hạnh phúc cho nhà, cho nước. Bằng cứ giữ thói xưa, đàn đúm chơi bời, làm điếm nhục đến gia phong, lại coi thường đến pháp luật, ta sẽ làm sớ về triều, hạch tội Đào Đề Đốc, đã dung túng con cháu làm bậy, lúc đó chớ có trách ta là không bảo trước.

Bọn Tiến Thành lạy tạ rồi lui ra.

Thầy trò Vạn Hạnh lủi thủi dắt nhau về. Đến chùa thì trời đã sâm sẫm tối. Các cậu biết thân phận, bảo nhau vào buồng học nằm sấp xuống đất như đợi hình phạt của thầy.

Vạn Hạnh nghĩ chỉ vì bọn học trò mà mình bị nhục ở huyện, nên giận không thèm hỏi han gì cả. Tụng kinh xong, sư trưởng đi qua buồng học, đẩy cửa vào thấy năm cậu học trò nằm sấp mặt xuống đất, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu để trên giường. Sư trưởng nghĩ ái ngại, toan lên tiếng tha tội, nhưng chợt thấy trong bọn học sinh có một chú nhỏ nằm hai chân chổng lên trời như trêu ghẹo mình. Sư trưởng lại nhìn mặt thì ra là Lý Công Uẩn, ngài liền quát to :

- Công Uẩn, mày rủ rê chúng bạn ra ngoài gây vụ ấu đả, làm nhục cả đến thầy, không đáng tội hay sao mà còn làm trò thế kia ?

Công Uẩn điềm nhiên thưa rằng :

- Con phạm tội được thầy khoan dung không nở trách phạt, nhưng tự mình hổ thẹn, nên đầy đoa. tấm thân để sám hối tội lỗi. Con không dám ruỗi hai chân thẳng ra vì con sợ… - Mày sợ gì ?

- Hiện nay thiên hạ mới tạm yên, giang sơn chưa nhạt mùi khói lửa, bá tính còn đang rên siết trong cảnh tàn phá của chiến tranh. Người ẩn sĩ như rồng thiêng cuộn khúc, không dám vươn mình nhô khỏi đám mây vàng sợ trời đất lại ngửa nghiêng phen nữa. Vì thế cho nên con sợ… Đêm khuya không dám dang chân ruỗi Vì ngại non sông xã tắc xiêu.

Vạn Hạnh nghe Lý Công Uẩn ứng khẩu đọc hai câu thơ có khí phách anh hùng, trong lòng rất vui mừng liền tha tội cho cả bọn.

Anh em mừng rỡ ngồi nhỏm dậy, tạ Ơn thầy.

° ° °

Năm Ứng Thiên thứ nhất (niên hiệu vua Lê Đại Hành), Lý Công Uẩn vừa 20 tuổi.

Đã 4 năm nay, các bạn hữu mỗi người một nơi, không có tin tức gì cả. Tiến Thành và Thiên Tường về Hoa Lư đã lâu. Quách Chí, Lâm Đồng là con nhà giàu, nên trở về quê hương trông nom ruộng nương. Còn lại Hoàng Công Nghĩa nấn ná ở chùa được thêm hai năm, rồi bỗng một hôm, xin phép thầy ra đi trên đường gió bụi.

Lý Công Uẩn một mình không ai bầu bạn, sớm chiều tiếng mỏ câu kinh, lắm lúc nghĩ đến tương lai mà chán ngán. Nhiều lúc, chàng năn nỉ xin với sư trưởng thế phát cho mình, để yên tâm nương bóng Phật đài tới khi đầu bạc. Nhưng sư trưởng chỉ gạt đi, không nói gì. Một tối nhân lúc sư trưởng đi vắng, chàng một mình ngồi đọc sách dưới ngọn bạch lạp, thấy người mỏi mệt, liền ra sân dạo mấy đường quyền.

Mặt trăng đã lên cao, những cành tre dưới luồng gió, lả lướt in bóng đen trên nền trời trong xanh. Thỉnh thoảng giữa cảnh đêm khuya tịch mịch, tiếng giun dế bỗng vang lên, đều đặn và nhịp nhàng, rồi vụt im lặng làm cho cảnh vật lại rơi vào trong khoảng không âm thầm.

Chàng luyện tập một lúc, rồi ngửa mặt nhìn hai con quạ bay lượn dưới ánh trăng kêu "quàng quạc", lẩm bẩm nói :

- Giống quạ kia có hai cánh vùng vẫy trong bầu trời. Sung sướng thay ! Cuộc đời của chúng so với ta khác nhau nhiều. Ước gì ta cũng được tự do phiêu lưu trong bốn bể, làm nên sự nghiệp lừng lẫy chứ giam mình ở dưới mái chùa chẳng mai một mất tuổi niên thiếu lắm ru ! Sư trưởng thường bảo ta không có căn tu, khó thành một vị cao tăng đạo đức được, chỉ nên tìm đưòong tiến thân trong bể hoạn, sẽ có công danh hiển hách một thời. Nhưng ngẫm thân ta mồ côi từ thuở nhỏ, anh em quyến thuộc không ai, một mình vùng vẫy trong trường đời , cạnh tranh thì khó nắm được phần thắng. Không lẽ thân nam nhi như ta mà lại chịu an phận cho đến già trong bốn bức tường thì nhục nhã quá.

Nói đoạn, chàng thấy cõi lòng xao xuyến rồi như say sưa với chí hoài bảo cao cả, cất tiếng hát vang :

- Bốn bể là nhà ta chừ….lẻ loi không bạn Đàn chim cao trên trời xanh chừ…tự do bay lượn Đời thiếu niên chí tang bồng chừ….sống trong kềm toa? Tấm thân nam nhi vẫy vùng chừ…công danh đợi thời.

Nguồn cảm hứng đang bộc phát, chàng ứng khẩu ngâm một bài thơ :

- Thiên phú ngô hề đại tái ngô Sinh ngô tất hữu đại hồng đồ Hiếu trung hoàn nguyện tư từ lực Thạc phú do thời hiến đế đô Dịch nôm :

Xoay vần tạo hoá thử xem sao ?

Giáng xuống trần gian định thế nào ?

Trọn chữ hiếu trung nhà phật lực Cánh hồng có lúc bỗng bay cao.

Tiếng hát vang dội trong cảnh tịch liêu, hàm súc mối buồn man mác, như oán, như than, khiến cho trái tim chàng héo lại.

Bỗng một bàn tay đặt nhẹ lên vai. Chàng quay lại, rồi một tiếng thốt ra dịu dàng, âu yếm :

- Con oán thầy lắm sao ?

Công Uẩn giật mình khi nhìn thấy sư trưởng đứng trước mặt. Chàng còn lúng túng chưa biết trả lời ra sao, thì sư trưởng tiếp luôn :

- Tâm sự của con thầy đã hiểu rõ rồi. Thầy không cản trở bước đường công danh của con đâu. Chẳng qua vận con chưa đến, nên thầy tạm giữ con ở chùa để rèn luyện tài nghệ cho tinh thục, ngỏ hầu có đủ năng lực đối phó với đời. Con chớ vội trách thầy không sửa soạn tương lai cho con. Thầy lúc nào cũng cầu Phật tổ ban phát cho con nhiều tài đức để chăn dắt muôn dângây dựng cơ nghiệp lâu dài.

Lý Công Uẩn thở dài :

- Con mong sao được cầm kiếm đứng hầu bệ ngọc cũng mãn nguyện rồi.

Sư trưởng mỉm cười đáp :

- Không những thế. Ngôi cao đã dành sẵn cho người có tài đức, vì thời cơ chưa đến, nên phượng hoàng phải ở lẫn với đàn gà. Con hãy nán chờ ít lâu nữa, thầy sẽ có cách cho con tiến thân.

Hai thầy trò nói chuyện một lúc rồi đi nghỉ.

Sáng hôm sau, Vạn Hạnh đang ngồi ở tăng phòng, thấy báo có Trọng Lâm sang chơi cùng đi với người lạ mặt. Vạn Hạnh mời vào, Trọng Lâm giới thiệu trước :

- Đây là Trẩm huynh ở xóm "Lòng Lợn", sang hầu sư trưởng.

Vạn Hạnh nhìn Trẩm Tam thấy trạc độ ngoài năm mươi, tinh thần quắc thước lắm, thì gật đầu nói :

- Trẩm huynh biết cải tà quy chánh, thật là hạnh phúc cho quốc gia. Còn Kim Chung độ này có mạnh không ?

Trẩm Tam buồn rầu đáp :

- Chủ nhân tôi mất đã gần một năm nay rồi.

Vạn Hạnh chép miệng than rằng :

- Tiếc thay, tài học như thế mà để mai một, âu cũng là số trời. Lúc lâm chung, Phạm huynh có dặn dò gì không ?

Trọng Lâm đỡ lời :

- Phạm huynh có nhắc đến đứa ngoại tôn.

- Hắn nói thế nào ?

- Nhờ tôi trình với sư trưởng sau này gây dựng cho cháu nên người, và dặn Trẩm Tam sang đây trông nom giúp.

Vạn Hạnh mừng rỡ nói :

- Bần tăng định đưa Công Uẩn về Hoa Lư, nhưng còn e đường xá xa xôi, sợ có điều bất trắc. Nếu có Trẩm huynh đi kèm bên cạnh thì không còn lo gì nữa.

Trọng Lâm hỏi :

- Công Uẩn đã được gặp ngoại tổ hắn lần nào chưa ?

Vạn Hạnh lắc đầu đáp :

- Nếu cho gặp cháu, ắt phải giữ luôn bên mình, không cho về bên này nữa. Bần tăng theo lời di chúc của sư huynh Khánh Vân, muốn giúp Công Uẩn xây đắp một tương lai rực rỡ, đâu lại để cho hắn nối nghiệp ngoại tổ mà làm chủ quán hay sao ? Vương hiền đệ hãy đợi mười năm sau, sẽ biết lời nói của bần tăng không phải là vu khoát.

Mùa thu năm sau, Vạn Hạnh dự định cho Công Uẩn đi Hoa Lư, bèn dặn Trẩm Tam rằng :

- Đây về kinh đô, đường xa dặm thẳng, Công Uẩn tuy vũ dũng nhưng chưa có kinh nghiệm về nhân tình thế thái. Đại huynh việc đời từng trải, liệu tùy cơ ứng biến, đừng để cho hắn bạo động mà gây sự chẳng lành. Đợi khi nào hắn lập được công danh, bần tăng sẽ tìm sau.

Đoạn sư trưởng gọi Công Uẩn giao cho phong thư mà bảo :

- Con đến kinh đô tìm Đào đại nhân, đưa phong thư này thì sẽ được trọng dụng. Con đi đường nhất nhất phải vâng lời Trẩm lão, chớ có cậy khoẻ mà mang vạ vào thân.

Trẩm Tam nghe nói đến Đào Cam Mộc có ý ngần ngại không dám nhận lời. Vạn Hạnh biết ý vổ vai Trẩm Tam vừa cười, vừa nói :

- Đừng lo ngại, Đào Cam Mộc đã có lời giới thiệu của bần tăng, ắt phải quên hết dĩ vãng của đại huynh. Bần tăng chúc cho hai người gặp nhiều sự may mắn.

Hôm sau Lý Công Uẩn và Trẩm Tam từ gĩa Vạn Hạnh đem hành lý lên đường.

Tiết trời tháng chín hơi lành lạnh, nước hồ trong vắt còn lác đác vài lá sen khô. Ngày đi đêm nghỉ, thấm thoát đã đến thành Đại La. Công Uẩn thấy một thị trấn dân cư đông đúc, buôn bán phồn thịnh khác hẳn các nơi khác, trong lòng vui vẻ lắm, thủng thỉnh vừa đi vừa ngắm phong cảnh.

Trẩm Tam hỏi :

- Hiền điệt có biết thành này xây tự đời nào không ?

- Như lời sư phụ tôi thường nói, thì thành này do Cao Biền xây, tính ra đến bây giờ có tới hơn trăm năm. Trong thành đường lối ngang dọc như bàn cờ, có thể chứa được hàng vạn nóc nhà.

- Ở đây cảnh tượng sầm uất thật, nhưng còn kém Hoa Lư xa.

- Trẩm lão đã đến Hoa Lư chưa ?

- Hồi niên thiếu, tôi có đến vài lần. Bốn bề núi non xây bọc, cảnh tượng hùng vĩ, dinh trại san sát , người ngựa tấp nập suốt ngày.

- Hoa Lư là nơi phát tích của nhà Đinh, chắc hẳn phải là đẹp đẽ kín đáo. Nhưng thành Đại La này cũng chẳng kém phần lịch sự. Một nơi đất cát phì nhiêu, trai thanh gái lịch, hồ rộng sông dài khiến cho du khách say mến chẳng nở dời chân.

Hai người vừa đi vừa nhìn bên đường thấy hàng quán la liệt, người ra vào ăn uống tấp nập. Tiếng chào mời rộn rịp, như trong đám hội. Trẩm Tam nhìn thấy một tửu điếm rộng rãi và sạch sẽ, lại ở ngay trên bờ sông Tô Lịch, liền kéo Công Uẩn vào.

Chủ quán chạy ra vồn vả hỏi :

- Qúy vị dùng gì ?

- Cho một bình rượu cúc thượng hảo hạng, một cân thịt trâu tái, một chân giò luộc, và ít rau sống.

Công Uẩn xưa nay ở chùa cơm muối rau dưa, ít khi dùng đến thịt cá, thấy Trẩm Tam gọi những món kinh người, liền xua tay nói :

- Thôi, lấy cơm và vài món rau, đừng bầy vẽ nữa.

Chủ quán vốn là người tinh tế, muốn chiều lòng cả đôi bên, liền thưa rằng :

- Bẩm, hôm nay là ngày hội, hàng cháu chỉ làm cỗ, chứ không có thịt trâu bán lẻ.

Công Uẩn ngạc nhiên hỏi :

- Hôm nay có hội gì ?

- Ồ, thế ra quý khách không biết à ? Nguyên do thế này :

Cách đây hơn độ nửa dặm đường, về phía tây, có đền thờ của Cao Vương, là người đã có công xây thành Đại La. Kể từ trước đến nay, có tới hơn 100 năm rồi. Cứ mỗi giáp đến mùa thu lại mở hội để kỷ niệm công đức ngài. Nhưng từ khi Đức Đương Kim Hoàng Đế khai sáng cơ nghiệp nhà Lê, đánh Tống, bình Chiêm, duy trì nền an ninhđộc lập cho nước, thì ngài có giáng chiếu bãi bỏ ngày lễ kỷ niệm đó và thay vào ngày hội mừng chiến thắng của Đại Cồ Việt. Quan tổng trấn cho phép nhân dân ăn mừng ba hôm, và chiều hôm nay ở sông Tô Lịch có cuộc đua thuyền rất vui. Qúy khách dùng cơm xong, đi bộ vài bước ra chỗ ngã ba cây, thì đứng xem rõ lắm.

- Thế còn cỗ bàn của bác ra sao ?

- Bẩm, ngày hội, chúng cháu có sửa soạn dăm mâm cỗ, toàn sơn hào hải vị, để các thượng khách dùng. Kể nấu nướng thì thật công phu lắm. Đầu bếp đón ở kinh đô ra, đều là những tay lành nghề. Chính quan tổng trấn đã dùng qua và tỏ lời ban khen đấy ạ !

- Mỗi mâm cỗ trị giá bao nhiêu ?

- Bẩm, 20 lượng bạc, không kể tiền rượu.

Lý Công Uẩn le lưỡi nói :

- Sao đắt quá như vậy ?

- Đó là gồm cả các khoản chi phí ngoại phụ nữa.

- Còn các khoản chi nào ?

- Bẩm, khách dùng cổ được tiếp đãi trên lầu có đào nương chuốc rượu, đàn ngọt hát hay. Suốt đêm thâu, các tửu bảo ăn mặc lịch sự thay phiên nhau hầu hạ. Chúng tôi thiển nghĩ chỉ mất có 20 lượng bạc mà được hưởng một lạc thú độc nhất trên đời, cũng không phải là đắt.

Trẩm Tam cười nói :

- Được rồi, người đi sửa soạn lầu để chúng tôi nghỉ một đêm. Sâm sẫm tối ta xem đua thuyền xong sẽ dùng cơm cũng được. Còn đào nương thì thôi, đừng gọi làm gì.

Chủ quán vâng lời lui ra. Hai người xách hành lý lên lầu, sai tửu bảo pha trà, vừa uống vừa ngắm phong cảnh.

Thành cao hơn hai trượng và dài non hai nghìn trượng, ngoài đắp một con đê rất dầy trông kiên cố và hùng dũng lắm. Dưới chân đê, con sông Tô Lịch lờ đờ chảy, thuyền bè đậu như lá tre. Người đi lại như mắc cửi. Công Uẩn chỉ tay bảo Trẩm Tam :

- Thành Đại La không những là một thắng cảnh của nước nhà, mà lại là một địa điểm rất tốt về quân sự nữa. Phía bắc có hồ rộng để tập thuỷ quân, gần đấy mấy ngọn núi đứng làm bức bình phong, chỉ cần một toán quân nhỏ đóng trên núi cũng giữ nổi thành. Nếu giặc Bắc tràn sang, quân đội đóng ở đây có thể ngăn giữ được mấy mặt, nhờ có con sông Hồng hà.

- Giặc có thể dùng thuyền cho quân sang sông được.

- Trên bờ sông cho đắp nhũng ụ đất để ngăn phòng, chọn những quân thiện xạ ngày đêm thay phiên nhau để ứng chiến. Sự chuyển vận quân đội sẽ do các đường hầm đào sẵn ăn thông vào các nơi tập trung của binh lính. Ta tuy không kềm chế nổi lực lượng rất hùng hậu của địch, nhưng cũng cầm cự được trong một thời gian, để chờ cho viện binh các nơi đến.

- Một cái thành xoàng xỉnh này thì cần gì phải phòng thủ cẩn thận thế ?

- Lão trượng có lẻ không nhận thấy rằng thành Đại La này là nơi trung tâm điểm của sự giao thông trong nước. Để cho giặc chiếm mất Đại La, và do đấy tung quân đi chiếm các nơi khác, thì khó lòng ngăn cản được sức tiến như vũ bão của địch quân.

Trẩm Tam mỉm cười đáp :

- Nếu mai sau hiền điệt được cầm quân chống cự giặc Bắc, thì chắc hẳn phải nghĩ ngay đến sự tổ chức một hệ thống phòng thủ cực kỳ chu đáo ở thành Đại La. Có lẽ hiền điệt là hậu thân của Cao Vương cũng nên.

Lý Công Uẩn cũng cười nói :

- Làm tướng phải thông hiểu thiên văn địa lý. Chỗ nào nên giữ, chỗ nào nên bỏ. Tiến lui nhanh chậm phải tùy cơứng biến. Nếu được như lời của lão trượng mong cho tôi, thì nhất định thành Đại La phải được mở mang và phòng thủ như một đô thị quan trọng bậc nhất vậy.

Hai người đang mãi nói chuyện, bỗng một tiếng pháo lệnh nổ vang trời. Trông về phía đền thờ Cao Vương, đoàn thuyền đang đậu yên lặng cạnh đám lau sậy, tự nhiên chuyển mình, cựa quậy chớp mắt đã tản ra tứ phía, lượn lờ một lúc, rồi xếp hàng ba trước đền. Tiếng pháo nổ lần thứ hai, ba chiếc đều vùn vụt lướt trên mặt nước. Rồi đến ba chiếc sau, tiếp đến ba chiếc nữa, rồi cả đoàn thuyền chuyển động rất đều. Hàng nọ cách hàng kia độ vài ba trượng, nhẹ nhàng tiến thẳng, giữa những tiếng reo hò ầm ĩ của dân chúng. Tiếng mái chèo đập xuống nước làm nổi những đợt sóng, hết lớp nọ đến lớp kia, toa? rộng ra, và đẩy những đám bọt trắng xoá lên bờ.

Tiếp theo là chiếc hoa thuyền của quan tổng đốc trên mui treo đèn kết hoa, bốn mặt mành buông kín mít. Sau nữa là những thuyền của nha lại và quân lính đi hộ vệ.

Đang lúc ấy, chợt thấy một luồng gió lốc cuộn từ mặt sông bốc lên, thổi dạt đoàn thuyền vào bờ. Rồi một tiếng sấm nổ chuyển động cả đất, lưng trời bỗng hiện ra một đám mây ngũ sắc, hào quang sáng rực át cả ánh nắng của mặt trời.

Giữa đám mây một con rồng vàng năm móng quẩy khúc phun ra những làn khói hồng bả lả bay về phương đông. Một lát sau, con rồng biến mất, đám mây ngũ sắc cũng dần dần trôi theo chiều gió, tản mác trong không trung.

Dân chúng xôn xao bàn tán cho là một sự lạ. Hai người ở trên lầu được nhìn rõ hơn ai hết, vì con rồng bay cách mái nhà độ mười trượng lại lượn một vòng rồi mới biến đi.

Trẩm Tam xoa tay cười :

- Rồng là một con vật đứng đầu tứ linh, tượng trưng uy quyền của thiên tử. Thành Đại La cũng là một quý địa nên linh vật mới xuất hiện. Chúng ta lần đầu đi cầu công danh, gặp điềm tốt chắc không đến nổi phải về tay không.

Công Uẩn cũng hưởng ứng nói :

- Sư phụ tôi thường nói khí thiêng của đất nước đều tụ cả ở đây. Thành Đại La dẫu được một vị đế vương chọn làm kinh đô cũng xứng đáng.

Đến tối, cơm nước xong, hai người đi dạo chơi một lúc, rồi đi ngủ để lấy sức hôm sau đi.

Ròng rả hơn nửa tháng trèo đèo lặn suối, hai người đã tới Hoa Lư. Trẩm Tam bàn rằng :

- Chúng ta tìm chỗ nghỉ ngơi, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi quần áo cho tề chỉnh, rồi hãy ra mắt Đào Đề Đốc. Nếu ta lôi thôi, lam lũ quá, vừa mất giá trị với kẻ hầu người hạ, vừa bị họ khinh rẻ.

Công Uẩn ngẩn người đáp :

- Có ít tiền ăn đường thì vừa đủ, còn đâu mà sắm sửa y phục nữa.

Trẩm Tam vỗ vào hành lý nói :

- Trong này còn một nén vàng cũng thừa, chỉ dụng ở đất đế kinh này.

- Trẩm lão lấy ở đâu thế ?

- Tiền của ta buôn bán, dành dùm được hơn chục năm.

- Định trọ Ở đâu ?

- Hàng quán đông người ra vào, nhỡ có kẻ gian phi, dò biết ta lắm vàng bạc, sẽ tìm cách chiếm đoạt thì phiền cho ta phải canh giữ đêm ngày. Hơn hết là tìm xem có ngôi chùa nào sạch sẽ ở tạm ít lâu, rồi sẽ liệu.

Hai người hỏi dò dân cư mới biết cách kinh thành độ nửa dặm đường, về phía nam có chùa Cảnh Tỉnh rộng rãi, mát mẻ. Đi khỏi ngã ba đường thì tới một dãy đồi trồng toàn thông. Dưới chân đồi, hiện ra giữa rặng cây một ngôi chùa nguy nga, tráng lệ, có khắc ba chữ :

"Cảnh Tỉnh Tự" ở cổng. Hai người bước vào chùa, vừa đến sân thì gặp một sư già chóng gậy trúc đi ra.

- A di đà phật, bạch cụ.

- A di đà phật.

Trẩm Tam thưa :

- Bạch cụ, chúng tôi ở An Phong về kinh đô có chút việc, nhân qua đây thấy phong cảnh u nhã, ưa nhìn, ý muốn ở nhờ cảnh phật trong ít lâu. Ngày hai bữa cơm nhờ nhà chùa chu tất và dành cho một căn phòng tỉnh mịch. Ngoài ra, tiền dầu đèn, xin tính toán phân minh, không dám để nhà chùa thiệt thòi.

Sư già nhìn hai người một lúc rồi hỏi :

- Khách ở An Phong có quen sư đệ Vạn Hạnh không ?

Lý Công Uẩn cúi đầu thưa :

- Bạch cụ, con là đệ tử của người.

- Bần tăng thấy Vạn Hạnh nói có tên cao đồ là Lý Công Uẩn, phải chăng là quý danh của công tử ?

- Bạch cụ, chính là đệ tử.

Sư già cầm tay Công Uẩn, cười nói :

- Đã là bạn đồng đạo, thì nhà chùa tất phải tiếp đãi chu đáo. Xin mời hai vị lên phòng khách nói chuyện.

Hai người theo lên nhà trên. Sư già mới uống nước rồi hỏi Công Uẩn :

- Sư đệ Vạn Hạnh độ này có mạnh giỏi không ?

- Bạch cụ, sư phụ của đệ tử nhờ Phật tổ vẫn được bình an.

- Công tử về đây có việc gì ?

Công Uẩn cứ thật thà bày tỏ với sư già ý muốn của mình đi cầu công danh.

Sư già gật đầu nói :

- Đề Đốc Đào Cam Mộc đang được hoàng đế tin dùng. Công tử đã có lời giới thiệu của Vạn Hạnh ắt được trọng dụng. Bần tăng xem tướng công tử, thấy hồng phúc vượng lắm, sau này danh giá trùm cả thiên hạ sự nghiệp lừng lẫy không biết thế nào mà nói được.

- Nếu được như vậy, cũng là nhờ ở công lao trời bể của sư phụ đệ tử.

- Công tử đã không quên gốc, xin hứa cho một điều.

- Bạch cụ, xin chỉ giáo.

- Mai hậu khi công tử được dự vào quyền chính trong triều thì nên tìm trong Thiền môn những nhân vật siêu phàm bạt tuỵ để giúp việc cai trị thần dân. Ngoài ra lại cho lập thêm nhiều chùa, tô tượng đúc chuông, chọn các vị đạo đức cao tăng đi khai trường thuyết pháp để hoằng dương đạo Phật. Nếu biết lấy tôn giáo làm hậu thuẫn cho chính quyền, thì chính quyền mới vững vàng được. Và cũng nhờ có chính quyền mà tôn giáo được củng cố vững chắc và có cơ hội phổ biến trong dân chúng.

Lý Công Uẩn cúi đầu tạ Ơn.

Hôm sau Trẩm Tam ra chợ mua vài bộ quần áo, giầy mũ rất lịch sự. Bấy giờ đang tiết mùa đông, mưa phùn rơi rả rích lạnh buốt thấu xương. Trong chùa sư già sai đốt lửa sưởi, ngày ngày uống trà đàm luận với Công Uẩn. Vừa nửa tháng mưa mới ngớt hạt. Một buổi sáng nhìn về phương đông thấy vầng mây hồng rồi dần dần ánh nắng toa? ra ấm áp và dễ chịu.

Sư già xoa tay mừng rỡ nói :

- Hôm nay trời tạnh ráo, nhị vị có thể đi được rồi.

Trẩm Tam ăn vận như một viên ngoại. Công Uẩn thì mặc binh phục lưng đeo bảo đao, lộ ra một khí phách anh hùng.

Hai người về Hoa Lư hỏi thăm nhà quan Cửu Môn Đề Đốc. Lính canh thấy ăn mặc lịch sự, có ý nể liền hồi trống báo hiệu. Một lúc có quân ra nói :

- Quan đề đốc bận việc không tiếp khách hôm nay. Xin quý vị để danh thiếp lại.

Trẩm Tam lấy phong thư đưa cho tên quân và nói :

- Chúng tôi là người nhà quan đề đốc, phiền chú đưa giúp lá thư này.

Tên lính cầm lấy đi vào, đưa cho viên quản gia để chuyển lên phòng thư lại. Nguyên trong phủ Đề Đốc vẫn có riêng một phòng để nhận các thư từ ở các nơi đưa về, nhất là về dạo này, dân Mường ở 49 động Hà Man nổi loạn, nên ở biên thuỳ, các công văn cấp báo về như bươm bướm, công việc bận rộn suốt ngày đêm. Vua Đại Hành uỷ cho Cam Mộc việc sửa soạn lương thực, may sắm các chinh y để đợi ngày xuất quân. Ngày ngày các tướng sĩ phải ra giáo trường luyện tập các trận đồ. Ở các châu, huyện đều yết bảng chiêu mộ hiền tài, người, ngựa tấp nập về Hoa Lư đông như hội. Hôm ấy, Cam Mộc đang ngồi ở tư thất xem xét các giấy tờ, bỗng thấy lính vào trình phong thư. Vị lão tướng xem xong sai người gọi Đào Tiến Thành lên hỏi :

- Hồi con học ở chùa Tiêu Sơnquen biết người nào tên Lý Công Uẩn không ?

- Thưa cha, hắn là bạn học của con.

- Lý Công Uẩn là người thế nào ?

- Thưa, hắn ở với ai cũng lấy tín nghĩa làm đầu. Cư xử với thầy, với bạn thuỷ chung rất mực. Tuy hắn ít tuổi hơn con, nhưng tài nghệ thì gấp mười con.

Cam Mộc cả mừng nói :

- Nếu quả như lời con nói thì quốc gia lại thêm một vị trung thần lương tướng nữa. Cha sẽ thu nạp hắn ở dưới trướng để cho đi lập chiến công.

Tiến Thành cũng hớn hở nói :

- Thưa cha, hiện nay Công Uẩn ở đâu ?

- Hắn được Vạn Hạnh cho đi đầu quân hiện đang đợi ngoài dinh.

Tiến Thành reo lên một tiếng toan chạy ra thì Cam Mộc đã ngăn lại nói :

- Nhưng cha khó nghĩ quá.

Tiến Thành ngạc nhiên hỏi :

- Cha có việc gì khó nghĩ ?

- Hắn cùng đi với một tên tướng giặc là Trẩm Tam. Trước kia, hồi cha còn là Huyện Lệnh ở Đông Ngàn thì Trẩm Tam đang hoành hành ở vùng núi Tiên Du, gây nhiều vụ án mạng kinh khủng, cha cho quân đi truy tầm nhưng không sao bắt được. Ngày nay theo như lời Vạn Hạnh thì Trẩm Tam đã bỏ nghề lạc thảotrở về cuộc đời lương thiện. Dùng Trẩm Tam sợ có sự lo ngại về sau, đuổi hắn đi e mất lòng sư trưởng, con nghĩ thế nào ?

- Sư trưởng đã xét người tất không sai bao giờ. Trong bọn lục lâm có nhiều tay tài giỏi, nếu đã quy thuận triều đình mà không được trọng dụng, có thể phẩn chí làm liều, lại càng đáng sợ lắm. Cha nên lấy nhân nghĩa mà xử với thiên hạ thì bốn phương nhân tài mới chịu xuất đầu lộ diện. Nếu họ có bụng dạ phản trắc thì thân cô, thế cô, liệu làm gì nỗi mà sợ !

Cam Mộc gật đầu đáp :

- Con ra gọi họ vào cho cha xem mặt.

Tiến Thành mừng rỡ ra tìm Thiên Tường rủ đi đón Công Uẩn. Hai người ra ngoài dinh thấy Công Uẩn và Trẩm Tam đang chờ tin tức, mừng nhẩy lên chạy lại ôm lấy Công Uẩn. Anh em gặp nhau tưởng như giấc chiêm bao. Tiến Thành chảy nước mắt nói :

- Anh em xa cách, chốc đã 10 năm trời. Chúng em tuy vui cảnh gia đình, nhưng lòng vẫn canh cánh mong biết tin anh. Nay gặp nhau thật là lòng trời.

Công Uẩn ngậm ngùi nói :

- Chốc đã 10 năm, biết bao sự biến cải trong đời. Các anh đã lập gia đình chưa ?

Thiên Tường vừa cười vừa nói :

- Anh Thành đã lấy vợ rồi, còn tôi thì chẳng có ma nào nó thèm hỏi đến.

Mọi người đều cười ầm lên. Tiến Thành chợt nhớ ra vội hỏi :

- À, còn Quách Chí, Lâm Đồng, và Hoàng Công Nghĩa đâu ?

Công Uẩn thở dài đáp :

- Công Nghĩa đi không biết tin tức gì cả. Còn Lâm Đồng và Quách Chí thì về quê trông nom vường ruộng.

Thiên Tường cầm tay Công Uẩn nói :

- Anh và Trẩm lão hãy vào chào Đào bá phụ đã, sau sẽ nói chuyện nhiều.

Công Uẩn theo mọi người vào dinh trong, giữ lễ, quỳ xuống lạy chào. Cam Mộc nhìn thấy Công Uẩn trạng mạo khôi ngô, đi đứng uy nghiêm đường bệ, trong bụng rất vui vẻ, gật đầu đáp lễ, rồi hỏi :

- Cháu đến kinh đô trọ Ở đâu ?

- Thưa bá phụ, cháu trọ Ở chùa Cảnh Tỉnh.

- Sao cháu không đến tìm ta ngay, lại đến chùa làm gì ?

- Cháu đi đường ròng rả nửa tháng trời, người thấy mỏi mệt, nên phải đến chùa để tỉnh dưỡng ít lâu cho lại sức khoẻ, rồi mới dám đến hầu bá phụ.

Cam Mộc gọi Trẩm Tam uỷ lạo vài câu :

- Nhà ngươi có thiện chí phụng sự chính nghĩa, đáng khen lắm thay ! Sau này nếu nhà ngươi lập được chiến công, ta sẽ dành cho một địa vị xứng đáng với tài năng. Nhưng chớ có hai lòng để khỏi phụ tấm lòng tốt của ta đối với ngươi.

Trẩm Tam cúi đầu vâng lời.

Tiến Thành chạy lại ghé vào tai cha nói nhỏ mấy câu. Cam Mộc gật đầu mỉm cười nói :

- Ta xem cháu ở chùa cũng không được tiện lắm. Thỉnh thoảng có việc cần, lại phải cho người đi gọi. Thật là phiền phức và mất thời giờ ! Cháu và Trẩm lão vào ở trong này cho vui, bạn bè sớm tối hàn huyên, ôn nhuần võ nghệ chả bổ ích lắm sao ?

Công Uẩn lạy tạ Ơn.

Hôm ấy, Tiến Thành giữ Công Uẩn ở dinh, sai một tên lính đi với Trẩm Tam về chùa lấy hành lý, và cho gia nhân cầm thiệp mời các bạn lại chơi.

Buổi tối, chung quanh bàn tiệc ở hậu dinh quan Đề Đốc, có tới hơn hai mươi vị anh hùng hội họp. Hàng trăm ngọn bạch lạp đốt cháy sáng rực như ban ngày. Những người dự tiệc phần nhiều là con cháu các quan đại thần trong triều như Phạm Thiên Long, con trai của Thái sư Phạm Cự Lượng. Ngô Tử Hàn, con Ngô Tử An, Thượng thư lệnh. Từ Thạch, con Từ Mục, sau đến Nguyễn Diệu Thành, Phạm Hạc, Lê Nhân, vân…vân… Tiến Thành đứng lên giới thiệu Lý Công Uẩn với mọi người rồi nói :

- Chúng ta cùng là anh em, tình thân thiết như ruột thịt, xin lấy sự chân thành đối đãi với nhau. Nếu ta căn cứ ở chức tước của ông cha, để ấn định sự tôn ti trật tự trong buổi hội họp thì thật là một sự nhầm lẫn vô cùng. Trừ Lý huynh là tân khách, và tôi là chủ nhân, còn các vị đều xếp theo niên canh cả. Các bạn nghĩ sao ?

Mọi người đều vỗ tay tán thưởng. Gia nhân rót rượu. Tiến Thành nâng cốc rượu mời. Đang lúc chuyện trò thân mật, bỗng thấy một tên lính bưng một cái khay trên có một bình rượu trắng và con dao, đặt ở giữa bàn. Trước con mắt ngạc nhiên của mọi người, Tiến Thành đứng lên vòng tay nói :

- Chúng ta kết bạn, hàng ngày lui tới bàn chuyện cổ kim đã hiểu rõ hành vi, tư tưởng của nhau, và dẹp tan được hết mối ngờ vực từ trước đến nay. Cổ nhân có người coi trọng tình bằng hữu như bỏ cả chức tước, hy sinh cả thân thế và gia đình, lăn lưng vào vòng nguy hiểm để cứu bạn. Chúng ta ngày nay cũng nên noi gương tiền bối, gạt bỏ hết tính đố kỵ. Không vì những quyền lợi nhỏ nhen mà chia rẻ nhau. Một sự phản bội bất cứ ở trong trường hợp nào cũng không thể tha thứ được. Tôi xin bày một cái lễ "trích máu" cho mọi người cùng dự. Chúng tôi không bắt buộc một ai, nhưng kẻ nào đã uống máu ăn thề mà còn tráo trở hai lòng thì nguyện có thần linh chứng giám.

Đoạn chàng vén tay áo, cầm dao sẽ thích vào cánh tay làm chảy mấy giọt máu vào bình rượu. Rồi lần lượt đến các người khác, không một ai từ chối.

Tiến Thành cầm bình rượu lúc bấy giờ đã ra màu đỏ nhạt, thân hành đi rót cho mỗi người một cốc.

Bữa tiệc kéo dài mãi đến khuya mới tan.

Mùa đông năm ấy, quan đề đốc Đào Cam Mộc thấy quân sĩ đã luyện tập thành thục, lương thực dồi dào liền vào bệ kiến xin đi dẹp giặc Mường, đang nổi loạn ở Thạch Thành (thuộc về tỉnh Thanh Hoá bây giờ). Vua Đại Hành hội họp bách quan lại nghĩ kế. Thái sư Phạm Cự Lượng bàn rằng :

- Kể từ khi Ngô Vương Quyền khởi binh ở Á Châu ra đánh quân Nam Hán thống nhất giang sơn, cho tới nay có ngoài 40 năm. Tuy trong khoảng thời gian đó, chính quyền đã thiết lập vững chắc, nhưng ở vài nơi dân chúng vẫn không chịu tôn trọng mệnh lệnh của triều đình. Với những tập quán, phong tục lạc hậu, lại thêm chiến tranh tàn khốc làm kiệt quệ điều kiện sinh hoạt của họ, dân ở những nơi này bị bỏ rơi, đâm oán thù các nhà cầm quyền bất lực không ban hành được những biện pháp cần thiết khả dĩ bảo đảm được tài sảntính mạng của họ, nên kèn cựa muốn thoát khỏi thế lực của triều đình và thiết lập một giang sơn tự chủ mặc sức vẫy vùng. Tỉ như dân Mường ở 49 động Hà Man, trải qua các triều đình bị ức hiếp, đè nén bóc lột đến xương tuỷ, nhưng vì thế yếu nên nuốt hờn tạm qui phục. Bị bóc lột, ức hiếp là một cái khổ trong thời bình, nhưng đến khi loạn lạc thì triều đình lại không nhìn nhận đến, "sống chết mặc bây", dân "dã man", "dị chủng", làm cho họ uất ức mà làm liều. Quân đội anh dũng của ta có sợ gì một nhóm quân phiến loạn đó. Chỉ một trận là quét sạch hết, nhưng chiếm đất thì dễ, mà cai trị thì khó.

Một nơi như 49 động Hà Man, núi non trùng điệp điệp, khí hậu nặng nề dễ sinh ra nhiều bệnh tật hiểm nghèo. Một nắm quân ốm yếu, với một số ít quan lại không phải là một lực lượng hùng hậu có thể áp đảo được chúng. Không lẻ mỗi lần có nổi loạn, triều đình lại cử binh đi tiểu trừ, như thế chỉ thêm hao người tốn của rút cuộc về phương diện chính trị, ta vẫn không thu được kết quả gì.

Vua Đại Hành gật đầu phán hỏi :

- Vậy theo như ý khanh thì nên xử thế nào cho phải ?

- Thần xin hiến một kế mọn :

Ta cho người đi phao tin rằng Hoàng Thượng về kinh lý hạt Thạch Thành để phủ dụ trăm họ, phân phát thóc gạo cho người nghèo, chứ không có ý gây chiến tranh với dân. Như thế thì dân sẽ không sợ ta mà lại muốn gần ta, giặc không có dân ủng hộ thì không đủ sức mà đánh lâu, dần cũng phải tan. Thảng hoặc có nơi nào ra mặt chống cự thì ta hãy trừng trị. Bắt được giặc, hãy cho ăn uống tử tế, cấp quần áo, rồi tha cho về, lại chiêu dụ những kẻ có thế lực ở vùng đó về hàng, phong quan tước cho. Đó là những lợi khí rất hiệu nghiệm để thu phục nhân tâm một cách rất nhanh chóng. Khi nào bình định xong đất Hà Man, ta sẽ chọn một người nào có tín nhiệm của dân, lập lên làm chủ, đặt vươnglễ, lập triều nghi, trả lại sự tự do cho họ, chỉ bắt hàng năm phải triều cống và chịu nhận làm thần tử suốt đời. Có như thế thì triều đình mới không lo có sự âm mưu phản nghịch, và nếu các dư đảng của nhà Đinh có muốn hoạt động trong dân chúng cũng không đủ điều kiện để bành trướng thế lực được.

Vua cả mừng phán :

- Khanh bàn rất hợp ý trẫm. Nếu được ngày hoàng đạo, trẫm sẽ thân xuất binh đi chinh phạt. Trong khi vắng mặt, khanh giúp thái tử Long Việt trông nom việc triều chính, trừ có việc gì khẩn cấp hãy phi báo, còn ngoài ra, trẫm cho phép khanh được giải quyết lấy.

Văn quan là Từ Mục can rằng :

- Nay đang tiết mùa đông giá lạnh, lại thêm hiểm trở, sự vận chuyển quân đội và lương thực gặp nhiều điều trở ngại. Xin để sang xuân ấm áp sẽ xuất quân cũng vừa.

Mặt rồng bỗng cau lại, vua tiếp lời :

- Cứu binh như cứu hoả. Dân chúng ngoài biên giới bị giặc quấy nhiễu đang đỏ mắt đợi binh tiếp viện, mà ta cứ trùng trình chưa chịu xuất quân, tỏ ra thái độ nhút nhát thì còn gây thế nào được uy tín với dân nữa. Giặc dẫu đông nhưng toàn quân ô hợp, tuy có đánh chiếm một vài nơi, nhưng chưa tổ chức xong việc cai trị, nếu ta để chúng lập thành cơ ngũ hẳn hoi, thì sau này khó đánh. Xưa nay trẫm với quân sĩ gian nan từng trải, thanh gươm yên ngựa tung hoành ở bãi sa trường, coi cái chết nhẹ như lông hồng, có sợ gì rét mướt đâu. Ý trẫm đã quyết, các khanh chớ có nhiều lời.

Bách quan đều lặng thinh, không ai dám nói nữa.

Ngày mồng năm tháng một năm ấy, Đại Hành hoàng đế phong Cam Mộc làm tiền tướng quân mang năm nghìn quân đi trước mở đường, lại sai Lý Nhân cùng bọn Phạm Thiên Long, Ngô Tử Hàn, vận tải lương thực, còn mình tự thống lĩnh năm vạn quân cùng bọn mưu sĩ Ngô Tử An, Lê Tâm, Lê Trực Minh, kéo binh ra khỏi thành.

Đào Cam Mộc đi tiên phong trống rong cờ mở, qua các châu quận, truyền hịch chiêu an, dân chúng đón rước tỏ lòng quy thuận. Thấm thoát đã đến huyện An Đồng cách Thạch Thành mười dặm. Viên huyện lệnh ở An Đồng là Phùng Tất mang nha lại ra nghênh tiếp bên vệ đường.

Phùng Tất thưa rằng :

- Toàn thể huyện Thạch Thành đều lọt vào tay quân phiến loạn. Huyện lệnh là Cao Duy bị tử trận. Cách mấy hôm nay, bá quan được thám tử cho biết giặc đã tập trung cả bên kia dãy núi Phi Long, ý muốn chiếm huyện An Đồng.

- Chủ tướng của chúng là ai ?

- Bẩm là Bạch Công Thắng, một tay rất được tín nhiệm của dân Mường.

- Quân giặc thiện chiến về môn gì ?

- Chúng bắn tên nỏ rất tài, luồn rừng rất giỏi, can đảmdũng mãnh vô cùng.

- Quân ta đã có lần nào giáp chiến chưa ?

- Bẩm, quân lính ở An Đồng ít quá, so với địch như trứng chọi với đá, nên chỉ phòng thủ ở biên giới, chưa dám giáp chiến với giặc.

- Biết vậy, mai ra quân sẽ hay.

Tối hôm ấy, Cam Mộc hội các tướng lại bàn.

Tiến Thành hiến kế.

- Giặc đóng bên kia dãy núi, mà hơn tháng nay chưa hề động tĩnh là không có ý chiếm huyện An Đồng. Một là vì thế lực chưa đủ, hai là chúng thu hẹp phạm vi hoạt động, lấy Thạch Thành làm thế "ỷ dốc" rồi dần dà chiếm các vùng lân cận. Nếu ta muốn thắng ngay thì phải đánh mạnh vào Thạch Thành là nơi xương sống của giặc. Con xin đem ba trăm quân cảm tử, luồng rừng vào quấy rối hậu tuyến của đối phương, đợi đại binh kéo đến, sẽ trong đánh ra ngoài đánh vào, chỉ một trận là thắng.

Cam Mộc nói :

- Xem cách bố trí và hành quân của giặc thì đủ biết chúng không phải hạng vô mưu. Rừng núi đều có quân canh giữ. Nếu ta mạo hiểm cho ba trăm quân đi, nhỡ bị mai phục thì chống cự làm sao. Khác nào như xua đàn dê vào miệng cọp.

Phùng Tất giở bản đồ chỉ tay nói :

- Đây có một con đường lớn chạy vòng chân núi Phi Long, đến Lãng Trung là địa phận Thạch Thành. Con đường này bị phá huỷ hết. Một con đường nữa nhỏ hẹp vắt qua đèo Hải Long, cây cối rậm rạp, thì hình như có quân canh giữ vì suốt ngày thấy khói lửa chập chùng, cờ xí cắm la liệt.

Tư Chiềng lắc đầu tiếp lời :

- Địa thế hiểm trở quá, một người khó qua. Nếu giặc dùng lối đánh ẩn hiện không chừng thì nguy hiểm vô cùng.

Cam Mộc ngồi lặng thinh không nói. Một không khí nặng nề bao phủ cả mọi người. Họ đưa mắt nhìn nhau, nét buồn thoáng hiện trên những bộ mặt quả cảm, vụt đỏ bừng dưới ánh ngọn bạch lạp. Hình như trong giờ phút này, họ đều nhận thấy mình bất lực trước tình thế cực kỳ nghiêm trọng, và một sự lầm lỡ trong việc hành quân có thể đưa ra một đạo quân tinh nhuệ đến chỗ diệt vong.

Lý Công Uẩn phá tan sự yên lặng :

- Nếu đúng như lời huyện quan vừa nói, thì giặc thất bại đến nơi rồi.

Mọi người đều ngạc nhiên. Cam Mộc hỏi luôn :

- Hiền điệt cho biết ý kiến.

- Tướng giặc cũng thông hiểu binh pháp, lắm mưu nhiều trí, nhưng không đánh lừa nổi ta. Chúng phá huỷ hết con đường lớn để tỏ cho biết chúng không dùng con đường ấy nữa, nhưng kỳ thực chúng đã mai phục cả chung quanh rồi. Nơi mà ta thấy khói lửa, cờ xí, chỉ là một cách nghi binh thôi. Nếu bây giờ ta cho một toán quân đi chiếm đèo Hải Long rồi đại quân lặng lẽ kéo đi sau thì có thể vào Thạch Thành dễ như bỡn.

Thiên Tường tiếp lời :

- Lý huynh bàn cũng phải, nhưng trên núi thế nào cũng có quân canh gác, nếu ta trèo lên, giặc lăn gỗ đá xuống rồi nổi trống báo hiệu, viện binh của giặc kéo đến thì mình có cánh cũng chưa chắc thoát khỏi được.

- Ta chỉ cần vài trăm quân ăn mặc giả làm dân Mường, ban ngày tản mác đi kiếm củi. Đến tối vượt qua đèo, chẹn tụi quân tiên phong canh gác rồi đốt hoa? hiệu. Đạo quân của ta sẽ cho một nửa vượt núi chiếm trại Lãng Trung, còn một nửa đến đóng gần con đường lớn, giả vờ sửa chữa đường để cho giặc chỉ chú trọng về mặt này mà lãng bỏ mặt kia. Chiếm Lãng Trung rồi sẽ vòng lại đánh con đường núi Phi Long để tiếp ứng cho toán quân kia. Giặc bị đánh bất ngờ tất phải thua.


Cam Mộc cả mừng nói :

- Thật là diệu kế. Trong hàng tướng sĩ ai dám xung phong lấy đèo Hải Long không ?

Công Uẩn đứng lên xin đi.

Đầu canh ba, Cam Mộc cho quân sĩ thổi cơm ăn no rồi truyền cho các tướng phải tập trung ở dưới trướng để nhận huấn lệnh.

- Công Uẩn, Phùng Tất đem hai trăm quân mặc trá hình thường dân Mường vượt đèo Hải Long bắt hết đám quân gác đừng để tên nào chạy thoát. Chiếm đóng xong sẽ đốt lửa làm hiệu để viện binh đến. Đào Tiến Thành, Thiên Tường mang hai nghìn quân tiếp ứng cho toán xung phong rồi thẳng đường đến chiếm lấy Lãng Trung. Tư Chiềng, Cù Vân lãnh hai nghìn quân đến đóng gần con đường núi Phi Long, nhưng cấm không được giao chiến với giặc. Khi có tin báo Lãng Trung chiếm được rồi thì đánh vào núi Phi Long phá huỷ hết các cơ quan phòng thủ của giặc rồi hợp lực với Công Uẩn đi lấy Thạch Thành.

Các tướng vâng lệnh điểm quân ra đi.

Huyện Thạch Thành vốn là một cái thung lũng đất cát phì nhiêu, diện tích ước độ hơn năm nghìn mẫu, bốn mặt núi non hiểm trở. Dân cư phần nhiều là người Mường ở rải rác trong các động (cũng như thôn xóm), dưới quyền cai trị của viên tù trưởng Bạch Công Diên. Khi Ngô Vương Quyền đuổi được quân Nam Hán lên ngôi cửu ngũ, thì Bạch Công Diên sợ bị đánh chiếm, bèn mang phẩm vật qui thuận nhà Ngô. Qua thời Thập Nhị Sứ Quân, họ Bạch thấy nhà Ngô đã đổ, lợi dụng cơ hội hùng cứ một phương, ý muốn tuyệt giao với triều đình.

Đến đời Đinh Tiên Hoàng thì dân Mường thế lực đã đủ nhưng còn gườm sức mạnh của Vạn Thắng Vương, nên ngoài mặt thì thần phục, mà trong lòng vẫn ngấm ngầm gieo rắc mầm phản nghịch giữa dân chúng, và đợi thời để khởi sự. Khi Lê Đại Hành cướp ngôi nhà Đinh thì Công Diên mất, con là Bạch Công Thắng thay quyền cha.

Bạch Công Thắng tuy còn ít tuổi, nhưng có chí khí cao, nhất định không thần phục nhà Lê, nên hội với quân của 49 động Hà Man cướp huyện Thạch Thành, ra mặt chống nhau với vua Đại Hành. Công Thắng tự xưng là Thiên Oai tướng quân, phong cho em là Bạch Công Hàm làm phó tướng, Hoàng Công Nghĩa làm tiên phong, chia quân đi án ngữ các nơi hiểm yếu. Công Thắng nghe lời quân sư là Hoàng Phủ Nhâm dùng kế nghi binh ở đèo Hải Long, và sai con của Phủ Nhâm là Hoàng Phủ Thiềm mai phục ở con đường núi Phi Long để nhử quân Lê vào cạm bẫy.

Hoàng Phủ Nhâm là ai ? Chắc các độc giả cũng biết rồi. Nguyên Phủ Nhâm, Trần Hoà và Lưu Tấn Đường thấy cơ nghiệp đã bị thiêu huỷ cả, nên bỏ đất An Phong mang nhau đi kiếm ăn nơi khác. Trần Hoà và Lưu Tấn Đường lâm bệnh chết ở dọc đường. Còn một mình Phủ Nhâm theo bọn lái buôn về Hoa Lư ở được ít lâu. Một hôm chàng thấy nói miền trong sinh hoạt dễ dàng, liền lần mò vào huyện Thạch Thành, xin làm gia nhân cho họ Bạch. Chàng có tài ứng đối nhanh nhẹn lại thêm mặt mũi xinh đẹp nên được Bạch Công Diên yêu quí và cất lên địa vị thượng khách trong nhà.

Đến đời Bạch Công Thắng thì Phủ Nhâm càng được trọng vọng, và nghiễm nhiên trở nên một vai trò quan trọng trong cuộc tranh chấp của hai dân tộc.

Lại nói Công Uẩn, cùng với Trẩm Tam và Phùng Tất cho quân sĩ tản mát ở chân đèo Hải Long, mặc trá hình làm tiều phu. Sâm sẩm tối thì trèo lên núi. Hơn hai chục quân Mường đang ngồi sưởi ở dưới những chòi canh. Bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp, đành chịu để bắt sống. Công Uẩn cho quân đi lục soát các hang núi thấy không có gì khả nghi, mới cắm cờ hiệu nhà Lê.

Đến nửa đêm thì đốt lửa. Đào Tiến Thành ở đằng xa thấy lửa, biết quân mình đã thắng, liền ra lệnh cho sĩ tốt tiến thẳng lên đèo. Trong đêm tối, rét lạnh thấu xương, toán quân như những bóng ma nín hơi ngậm miệng, dò dẫm từng bước nối đuôi nhau đi. Đến sáng rõ thì cả ngọn đèo Hải Long hoàn toàn bị chiếm đóng.

Lý Công Uẩn một mặt sai nổ pháo lệnh và đánh trống thị uy, một mặt sai Tiến Thành cấp tốc đi chiếm trại Lãng Trung. Tướng giữ trại Lãng Trung là Quách Phùng thấy quân Lê ầm ầm kéo đến, vội lên ngựa truyền sắp cung nỏ phòng thủ, cẩn thận đem ba trăm quân ra dàn mặt trận. Tiến Thành đi đầu, tay cầm trường thương quát to :

- Loài giặc cỏ ! Chết đến nơi vẫn chưa biết.

Quách Phùng đáp :

- Hai nước xưa nay vẫn không có điều gì xích mích, tự nhiên vô cớ lại gây việc chiến tranh là tại làm sao ? Chúa (vua) mày quen thói xâm lấn nước người, phen này ắt phải bỏ xương ở đây.

Tiến Thành cười nói :

- Tống binh hùng dũng là thế mà cũng phải quăng giáp mà chạy. Chiêm quốc hiểm trở đến đâu cũng còn bị quân ta dày xéo. Một cái huyện nhỏ xíu này thì giữ sao nổi. Biết điều thì hàng ngay đi, dân chúng đỡ khổ mà các người cũng không mất phần phú quý.

Quách Phùng cả giận phóng gươm đâm. Hai bên đánh nhau được mười hiệp thì Quách Phùng bỗng thúc ngựa quay về trại. Tiến Thành thấy hắn chưa hẳn thua mà đã rút lui, ngờ có ám toán nhưng tin ở tài nghệ của mình, vững tâm phóng ngựa đuổi. Quách Phùng thấy địch trúng kế, cả mừng liền giơ gươm vẫy, tức thì một loạt tên ở trại bắn ra. Tiến Thành vẫn để ý đề phòng, khi thấy Quách Phùng làm ám hiệu, liền múa tít ngọn thương che đỡ cho mình và cho ngựa. Tên bắn ra rơi lả tả xuống đất như lá rụng. Lý Công Uẩn đi sau thấy thế, nghĩ ra được một mẹo, cho năm trăm quân cầm mộc và đoản đao xông vào, còn tự mình đem một nghìn quân vòng ra đằng sau trại đánh tập hậu. Tiến Thành thấy có quân tiếp viện cả mừng, liền hô quân thắt chặt vòng vây.

Quách Phùng thấy hai mặt bị đánh, mặt sau đã bị quân Lê phá vỡ hai lần rào tre, đang phóng hoa? đốt mấy căn nhà lá chứa lương thực, mặt trước quân xung phong đã chiếm được cổng trại, khí thế hăng hái vô cùng. Nhìn lên núi, quân Lê hằng hà sa số đổ xuống như nước lũ, cờ xí bay phất phới, trống đánh inh ỏi. Quách Phùng biết không giữ được, liền bỏ dinh trại phóng ngựa chạy. Lý Công Uẩn đang đốc chiến ở mặt sau sợ tướng giặc chạy thoát, liền giương cung bắn theo. Mũi tên cắm giữa lưng, thủng hai lần giáp, Quách Phùng suýt nữa ngã ngựa, cố nhịn đau, đeo cả mũi tên chạy thoát. Quân giặc thấy mất chủ tướng, liền bỏ khí giới xin hàng. Công Uẩn vào chiếm trại để Tiến Thành và Thiên Tường giữ Lãng Trung, còn tự mình mang một nghìn quân cùng Trẩm Tam, Phùng Tất đi đánh núi Phi Long.

° ° °

Đây nói về Hoàng Phủ Thiềm đang án ngữ con đường núi Phi Long, thấy quân Lê kéo đến sửa chữa những quãng đường bị phá huỷ, trong bụng cả mừng. Suốt ngày hôm ấy đoàn công binh chỉ đào xới qua loa, làm việc một cách uể oải, tắc trách, cười đùa ngã nghiêng mất cả trật tự. Phủ Thiềm chỉ tay nói với Ngô Ban :

- Quân sĩ như thế kia mà dám đi cướp nước người. Phen này ta sẽ làm cho uy danhĐại Hành sớm tan như mây khói.

Ngô Ban đáp :

- Tôi ngờ có mưu mẹo chi đây, dù là một toán quân ô hợp cũng không đến nỗi vô kỷ luật như thế, huống hồ là quân đội của vua Lê Đại Hành. Ta nên coi chừng kẻo bị lừa.

Phủ Thiềm cười, nói :

- Dù có mưu mẹo ta cũng không sợ.

Vừa nói xong thì có tin thám tử ở Thạch Thành về có việc khẩn cấp, và đệ trình phong thơ của quân sư. Phủ Thiềm bóc thơ, xem chỉ thấy vỏn vẹn có mấy câu :

- " Con, Con phải luôn luôn liên lạc với trại Lãng Trung, và phòng bị quân Lê đánh úp. Đừng để mất Lãng Trung. Nếu có nguy cấp phải phi báo ngay." Thiềm cười nhạt nói với Ngô Ban :

- Phụ thân ta hay lo xa quá.

- Quân sư đoán việc không sai, tướng quân phải cẩn thận. Nếu sơ xuất thì mang tội với chúa công.

Thiềm không nói, cho thám tử lui ra.

Trưa hôm sau thì có tin Lãng Trung bị chiếm. Quách Phùng bị thương trốn mất, quân Lê sắp kéo đến nơi. Thiềm giật mình nói :

- Ta mắc lừa giặc rồi.

Đang lúc ấy, chợt thấy pháo nổ ầm trời, hai mặt quân Lê đổ vào, mạnh như vũ bão.

Thiềm cả giận nói với Ngô Ban :

- Đại huynh cho quân rút lui về Thạch Thành để bảo vệ toàn lực lượng, chớ có ham chiến mà nguy. Tôi có chết cũng làm cho chúng khốn đốn một phen.

Ngô Ban đáp :

- Đại Trượng Phu có sợ gì chết, chúng ta hãy giáp chiến với giặc, xem tài nghệ của họ ra sao.

Nguyên Ngô Ban và Phủ Thiềm là hai tay danh tướng của Bạch Công Thắng, nên được giữ trọng trách án ngữ đường núi Phi Long là cổ họng của Thạch Thành. Nhất là Phủ Thiềm mới có 19 tuổi, nhưng sức mạnh trùm cả một đội quân, sử dụng đôi chùy nặng 80 cân, xưa nay vẫn tự nhủ là anh hùng vô địch. Lúc ấy, Ngô Ban sai quân sĩ phóng hoa? đốt hết dinh trại, rồi chia ra làm hai đường kéo ra ứng chiến. Vừa hay Công Uẩn kéo binh tới, Ngô Ban múa đao xông vào. Hai tướng giao chiến được vài chục hiệp, bất phân thắng bại, thì Phủ Thiềm đến. Phùng Tất đón đánh, Thiềm quát to một tiếng, giáng xuống một chuỳ. Phùng Tất đỡ không nổi, vộc thúc ngựa chạy. Trẩm Tam đến cứu, giao chiến được vài hiệp cũng chạy nốt. Thiềm không thèm đuổi, dừng ngựa lại xem hai tướng kia đánh nhau, thấy đường thương của Công Uẩn rất tài tình, trong bụng khen thầm. Công Uẩn càng đánh, tinh thần càng phấn khởi, đường thương biến hoá mỗi lúc một khác, làm cho Ngô Ban đỡ gạt không nổi, ý muốn tìm đường tháo lui. Thiềm sợ Ngô Ban bị bại, liền vung đôi chùy xông vào. Công Uẩn đánh với hai người độ vài chục hiệp nữa thì đã thấy núng, hơi thở hồng hộc. Đang lúc nguy cấp, bỗng thấy hậu quân bên địch rối loạn, một tướng phi ngựa tới, đi đến đâu giặc tản ra đến đấy, hung dữ như thiên thần.

Nguyên Tư Chiềng và Cù Vân được tin báo Công Uẩn đã chiếm được Lãng Trung và kéo quân đến đánh núi Phi Long. Đang khi giao chiến với giặc, bèn cho quân đánh thẳng vào tiếp ứng cho Công Uẩn. Lúc kéo qua rừng thấy hầm hố rất nhiều, dịnh trại đã bị đốt sạch, xa xa tiếng ngựa hí, quân reo nghe đinh tai nhức óc. Cù Vân nóng ruột thúc quân đi mau, thì vừa hay gặp lúc Công Uẩn bị vòng vây rất nguy cấp. Cù Vân rút cặp roi sắt xung sát quân giặc. Tư Chiềng vung búa nhắm đầu Phủ Thiềm giáng xuống. Thiềm khinh thường giơ chùy lên đỡ, thấy chói tay, suýt rơi mất binh khí. Chàng gắng sức giao chiến được mươi hiệp thì kiệt lực, tìm đường thoát thân. Ngô Ban cũng phóng bậy một gươm chạy nốt. Quân giặc vứt cờ, quẳng giáo đùng đùng kéo nhau chạy như ong vỡ tổ.

Tư Chiềng, Công Uẩn họp hai đạo binh làm một, rồi đánh thẳng về Thạch Thành, không gặp một sức kháng chiến nào của địch cả. Đến tối, thì tới nơi, thấy dinh trại còn nguyên vẹn nhưng quân giặc thì đã rút lui từ lâu rồi.

Lại nói Đào Cam Mộc phái quân đi các nơi xong, ngồi ở huyện An Đồng đợi tin thắng trận.

Chưa đầy hai hôm, các thám tử tới tấp báo tin sự thắng lợi liên tiếp của quân đội, và cuối cùng là việc chiếm đóng huyện Thạch Thành.

Cam Mộc cả mừng cho ngựa lưu tinh phi báo về hậu tuyến. Trưa hôm sau thì đại binh của vua Lê Đại Hành tới nơi. Thấy các nam, phụ, lão, ấu bầy hương án ở dọc đường để nghênh xá. Vua xuống ngựa phủ dụ dân chúng và sai mở kho phát thóc gạo cho mọi người.

Cam Mộc rước vua vào nghỉ trong huyện và tường trình chiến sự. Vua Đại Hành gật đầu phán :

- Khanh thật là một tướng có mưu lược. Trẩm rất hài lòng.

Ngô Tử An tâu rằng :

- Giặc mới thua, nhuệ khí sút kém đi nhiều. Bệ hạ nên thừa cơ tiến binh thì đất Mường có thể bình định trước Tết Nguyên Đán.

Hôm sau, đại binh kéo qua đèo Hải Long, sang Lãng Trung. Tiến Thành mang các tướng ra đón, vua Đại Hành ngồi trên mình ngựa ngắm địa thế một lúc rồi phán bảo Cam Mộc :

- Giặc thất trận là vì không tổ chức sự liên lạc giữa Lãng Trung và núi Phi Long. Hai đầu này ví như đầu và đuôi rồng, chúng đã biết đóng binh ở đầu và đuôi, lại bỏ khúc mình, thì thật là dại dột. Khanh cho lập thêm vài trại ở giữa hai nơi này, cắt quân phòng thủ, lại cho trồng nhiều cây đinh liệu. Đầu đuôi lưỡng tương hỗ trợ, giặc có tấn công cũng không đáng sợ.

Cam Mộc lạy xin nghe lệnh. Đoạn ngài truyền cho quân lính đi gấp đường đến Thạch Thành.

Quách Phùng bị thương, phóng ngựa chạy được mười dặm đường thì mệt quá, dừng lại nghỉ.

Chàng nghiến răng rút được mũi tên ra rồi kêu to một tiếng, ngã lăn xuống chân ngựa. Vừa hay lúc đó Phủ Thiềm và Ngô Ban bại trận cũng chạy đến nơi. Ngô Ban thấy Phùng bị thương máu thấm qua lần áo giáp ở sau lưng ,vội xốc nách, cõng lên vai rồi về động Khuê Sơn chịu tội.

Phủ Nhâm hỏi con :

- Mày có nhận được thư của tao không ?

- Thưa cha, có.

- Sao mày không theo đúng như lời tao dặn ?

- Thưa cha, con chưa kịp hành động thì quân Lê đã kéo đến vì Lãng Trung đã bị chiếm rồi.

Phủ Nhâm hỏi Ngô Ban, Ban không dám nói thực, sợ bị tội lây, bèn đổ lỗi cho Quách Phùng làm hỏng việc.

Phủ Nhâm hỏi :

- Quách Phùng đâu ?

- Thưa, hắn bị thương đang nằm điều trị Ở hậu dinh.

- Quân Lê đến sao không phi báo để lấy viện binh.

- Thưa có, nhưng chắc bị vòng vây nên không có tin đưa ra.

Phủ Nhâm quắc mắt nói :

- Chúng mày ăn nói hồ đồ lắm. Canh phòng bất cẩn nên mắc lừa giặc. Quân bay đâu, đem hai thằng này chặt đầu để làm gương.

Bạch Công Thắng can rằng :

- Thế giặc mạnh quá, nên không chống cự nỗi. Thua được là sự thường. Quân sư hãy tha cho hai tướng để lập công chuộc tội.

- Quân Lê có ý dùng Thạch Thành làm vị trí căn bản để đi đánh các động của ta. Nếu ta không đánh bật được họ ra thì cả một diện tích rộng năm nghìn mẫu đất cát phì nhiêu sẽ vào tay giặc hết. Ta ẩn nấp ở trong rừng thì còn hành động gì nữa.

Phủ Nhâm đáp :

- Chúa công đừng lo, tôi sẽ dùng một kế nhỏ làm cho chúng không dám bước chân đến Thạch Thành nữa.

° ° °

Một tháng sau, quân các động kéo về, cộng tất cả hơn một vạn người. Phủ Nhâm gọi Ngô Ban lên ghé tai nói nhỏ. Ngô Ban lĩnh mệnh xuống điểm 20 tên quân, mặc trá hình là quân Lê đi luồn rừng, tắt đường về Hoa Lư. Đến nơi, Ban cho vài ba tên quân ăn mặc giả làm người Tống và người Chiêm Thành ẩn nấp ở một cái miếu nhỏ.

Một mặt cho người đi phao tin Tống binh đã tập trung rất nhiều ở biên thuỳ, ước hội với quân Chiêm để báo thù trận Chi Lăng. Trong mấy hôm kinh thành nhao nhác, chợ búa vắng teo, cửa ngỏ suốt ngày đêm đóng im ỉm. Thái sư Phạm Cự Lượng thấy quang cảnh như thế, vội sai các thám tử đi lục soát các hang cùng ngỏ hẻm để bắt gian tế, thì tóm ngay được ở miếu một bọn vừa quân Tống, vừa quân Chiêm, non 10 người. Phạm Cự Lượng truyền dẫn vào để mở cuộc phỏng vấn. Không ngờ bọn này lấy thuốc độc ra nuốt một lúc thì chết. Cự Lượng tức tối phái mấy tên quân kỵ đi gấp ngày đêm đến Thạch Thành báo tin, đồng thời sai quân canh phòng rất cẩn thận, tra xét những người qua lại. Ngô Ban thấy công việc đã có kết quả, sợ Ở lâu bị bại lộ, liền trốn về Khê Sơn.

Hoàng Phủ Nhâm bàn rằng :

- Đại Hành nghe thấy tin này tất phải bí mật rút lui, nhưng thế nào cũng cho tướng đi chặn hậu, đề phòng quân ta tập kích. Ta dùng mẹo này ắt sẽ toàn thắng.

Đoạn sai đánh trống hội họp các tướng sĩ lại nghe lệnh.

- Ngô Ban, Bạch Hồng đem 500 trăm quân đi tắt đường, đến quấy rối Lãng Trung, đêm thì đốt lửa, ngày đánh trống, cốt giữ cho khỏi tiếp ứng Thạch Thành.

- Công Nghĩa, Phủ Thiềm mang 300 quân mai phục ở con đường Thiết Sơn, phóng hoa? đót lau sậy, chỉ dùng tên nỏ bắn không cần giáp chiến.

- Đinh Công Kha, Quách Phùng đem năm con voi trận đón ở gần Lãng Trung, thấy quân Lê chạy qua thì cho voi vào ứng chiến.

- Chúa công cùng tôi đem 3000 quân đi tiếp ứng cho các nơi. Phó tướng Bạch Công Hàm giữ Khuê Sơn, vận tải lương thực cho các đạo quân.

Các tướng lĩnh mệnh điểm quân đi.

Từ khi chiếm được Thạch Thành, vua Đại Hành cho người đi chiêu dụ dân chúng về làm ăn, phát thóc giống để cầy cấy. Những gia đình có nhà cửa bị thiêu huỷ đều được bồi thường. Ra lệnh nghiêm cấm quân lính không được nhủng nhiễu nhân dân, lại kén những thanh niên khoẻ mạnh cho về Hoa Lư luyện tập. Thường thường nhà vua cưỡi ngựa cùng với mấy viên tướng tùy tòng đi xem xét tình hình sinh hoạt của dân chúng.

Bấy giờ đang độ mùa đông rét mướt, quân sĩ canh phòng vất vả, người nào cũng huy vọng được về quê hương trước Tết Nguyên Đán.

Một hôm vua Lê Đại Hành đang ngồi bàn với các tướng về việc hồi hương, thì chợt thấy báo có thám tử ở Hoa Lư trình việc cơ mật. Vua cho vào, thám tử làm lễ triều kiến xong, dâng thơ của Thái Sư. Vua đọc thơ, mặt rồng biến sắc, trầm ngâm nghĩ ngợi một lúc rồi phán hỏi :

- Ở kinh thành, Thái Sư đã ban hành mọi phương sách cần thiết để đối phó với tình thế chưa?

- Tâu Hoàng Thượng, quan Thái Sư đã sai tướng đi tiếp ứng cho các đạo quân ở biên giới, nhưng chưa có việc gì quan trọng xảy ra.

Vua trao bức thư cho Ngô Tử An truyền đọc cho các tướng nghe. Mọi người đều sửng sốt nhìn nhau.

Lý Nhân tâu rằng :

- Thần xin mạng phép thánh hoàng tham bác một vài ý kiến. Việc bình định đất Mường đã gần xong chỉ cần một ít quân cảnh bị đóng ở đây để ngăn ngừa những việc bạo động. Còn đại binh thì cho rút về kinh đô án ngữ ở mặt Bắc. Hai đạo quân ở Lãng Trung và núi Phi Long cần phải tăng cường để tiếp ứng cho Thạch Thành.

Phạm Thiên Long cũng tâu rằng :

- Giặc Tống mới là ung nhọt của ta, cần phải trị ngay. Thạch Thành đất hẹp dân thưa, dẫu có chinh phục được thì cũng chẳng làm cho ta giàu thịnh thêm mấy. Nếu đặt quan cai trị và giao cho quyền thế lớn lao thì dễ sinh phản nghịch, đáng lo ngại cho triều đình. Như ý của hạ thần nên bỏ đất này là hơn cả.

Ngô Tử An không bằng lòng nói :

- Tiểu tướng quân nghĩ nhầm, Hoàng thượng lấy nhân nghĩa trị thiên hạ, đâu đâu cũng là tôi con của triều đình. Chỗ nào dân sự ngoan cố thì đem đi chinh phạt. Còn tỏ lòng quy thuận thì được ơn mưa mốc của chính bệ. Viên tù trưởng Bạch Công Thắng là thần tử của triều đình được cắt cứ một phương, tưởn cũng là vinh dự lắm rồi. Ngày nay hắn ăn ở lỗi đạo tôi con, nghe lời súc siểm của thuộc hạ, nổi lên chống cự với triều đình, gây cuộc chiến tranh tàn khốc. Việc bình định huyện Thạch Thành đã gần kết liễu, quân phiến loạn chỉ nay mai là tan rã, có lẽ nào ta lại chịu bỏ về tay không ?

Mưu sĩ Lê Trực Minh tâu rằng :

- Xin bệ hạ nghe lời của Lý Nhâm để một ít quân ở Thạch Thành, còn đại binh thì rút về kinh đô, phòng bị cuộc xâm lăng của Tống.

Vua Đại Hành phán :

- Khanh bàn rất hợp ý trẫm.

Bỗng ở hàng ghế cuối cùng một tướng chạy ra quỳ xuống tâu :

- Nếu bệ hạ rút lui tức là mắc mẹo của giặc.

Vua nhìn xuống thấy một thiếu niên, trạc ngoài 20 tuổi, trạng mạo khôi ngô, dáng điệu uy nghi đường bệ. Ngài ngạc nhiên phán hỏi :

- Khanh tên gì ?

- Tâu hoàng thượng, thần họ Lý , tên Công Uẩn, là thuộc hạ của Cửu Môn Đề Đốc Đào Cam Mộc.

- Khanh có ý kiến gì ?

- Thần có vài ý kiến mọn, xin bày tỏ cùng bệ hạ. Từ khi Hoàng quân đáng chiếm Thạch Thành, kể có hơn một tháng trời, mà chưa thấy một phản ứng nào của giạc. Thật là một sự đáng ngờ. Vài trận nhỏ ở Lãng Trung, Phi Long không đủ làm kiệt quệ lực lượng kháng chiến của địch, và sự im lặng của đối phương đã báo hiệu một cơn bão táp sắp xảy ra nay mai. Trước uy thế rất lớn của quân ta, giặc biết không thể cản nổi phải rút lui, và chỉ để cho hai toán quân ở Lãng Trung ứng chiến qua loa, mục đích thăm dò lực lượng quân ta. Lấy sức không thủ thắng, giặc phải dùng mẹo phao tin quân Tống tập trung ở biên thùy để lung lạc tinh thần quân sĩ… Vua Đại Hành gật đầu phán :

- Cho phép khanh nói.

Lý Công Uẩn tiếp :

- Đối với ta, Tống triều tuy chẳng thật bụng, nhưng hãy còn nơm nớp sợ trận Chi Lăng, vả lại rợ Khiết Đan chưa chịu quy thuận thì nhà Tống chưa dám nghĩ đến sự bành trướng thế lực về phương Nam, để báo thù cho Hán Nhân Bảo. Huống hồ bệ hạ đã chịu thần phục nhà Tống thì không có lý gì lại còn gây việc can qua với ta nữa. Còn Chiêm Thành, dẫu chúng bị kiệt quệ về chiến tranh; kiến thiết lấy nước còn khó khăn lại còn dám nghĩ đâu đi xâm lăng nước người. Vậy hạ thần có thể quả quyết rằng mấy tên dọ thám bị bắt ở kinh đô là những người của đối phương đã trá hình mà ra, cho nên chúng đã phải tự sát để khỏi bị bại lộ hình tích.

- Vậy theo ý khanh thì ta nên đối phó bằng cách nào ?

- Quân giặc đoán thế nào ta cũng bỏ Thạch Thành, nên đã đi mai phục các nơi rồi. Nếu ta rút lui thì sẽ rơi vào cạm bẫy của chúng. Ta cứ ở đây tạm đình chỉ mọi việc hành quân, xem đối phương hoạt động thế nào, một mặt tích trữ lương thảo, luyện tập sĩ tốt. Mặt khác cho quân lính tiếp xúc với nhân dân, không phân biệt là "đồng tông" hay "dị chủng", lấy tình thân mà thủ ứng nhau, lúc đói kém thì chia xẻ tiền gạo, khi bệnh hoạn thì cơm cháo, thuốc thang, gây thành cái thế "quân dân lưỡng tương hỗ trợ". Nếu ta nắm được dân chúng ở trong tay, thì giặc không dựa vào đâu mà quấy rối, vì đi đến đâu cũng sẽ bị xua đuổi. Lúc ấy, ta chỉ dùng một toán quân nhỏ là quét sạch hết.

Lê Tâm trừng mắt nhìn Công Uẩn nói :

- Tiểu tướng quân ăn nói hàm hồ, không sợ mang tội với Thánh Hoàng sao ?

Vua Đại Hành mỉm cười phán :

- Trong lúc bàn việc quân cơ, trẫm cho phép các người được góp phần ý kiến. Còn theo hay không là tự ý trẫm.

Đoạn nhà vua truyền cho các tướng sĩ đêm tối phải canh phòng cẩn mật, và phái thám tử về Hoa Lư xem xét tình hình.

Chập tối, gió lạnh từng cơn rít lên nghe buồn rầu, ảm đạm. Trên chòi canh, tiếng trống thỉnh thoảng lại dõng dạc điểm. Quân sĩ tụm năm tụm ba chung quanh những ngọn lửa hồng, lặng lẻ nhìn làn khói bị gió cuốn lên trên màn trời đen sẩm. Gió rét đã lùa mạnh vào cõi lòng của họ nên họ chen chúc nhau để nhận lấy sức nóng của lửa da thịt, của hơi thở trong cái cảnh hãi hùng của đêm tối nơi chiến địa.

Vua Đại Hành quyết định ngày 15, tháng chạp thì rút lui. Lý Công Uẩn can rằng :

- Bệ hạ bỏ Thạch Thành tức là mắc mưu của địch. Xin cố thủ ở đây, đợi sang xuân sẽ khởi thế công.

Vua không nghe, truyền quân sĩ, cơ nào đội ấy, chuẩn bị sẵn sàng. Đúng ngày đã định, đại binh ngã cờ im trống kéo về Lãng Trung. Đi gần đến Thiết Sơn thấy đường xá bị cắt đứt nhiều chỗ, quân sĩ phải xếp hàng một đi cạnh đám lau sậy. Chợt một tiếng pháo lệnh nổ vang trời, hai bên đường ngọn lửa bốc lên ngùn ngụt, lại nhờ sức gió cháy lan rộng rất nhanh. Quân lính đổ xô nhau chạy mất cả hàng ngũ, vừa chết vừa bị thương rất nhiều. Vừa ra khỏi đường Thiết Sơn, thì nghe tiếng trống đánh ầm ĩ, quân giặc hằng ha sa số, dùng toàn dao ngắn lăn xả vào đâm. Cam Mộc ở đằng sau thúc quân lên cứu ứng bị Phủ Thiềm đánh chặn. Hai người đánh nhau hồi lâu, bất phân thắng bại, chợt thấy hậu quân Lê kêu ầm lên, xô nhau chạy, thì ra Phủ Nhâm và Bạch Công Thắng mang đại binh đánh xuyên ngang, làm cho quân Lê đầu đuôi không liên lạc được với nhau. Tư Chiềng thúc ngựa vào giữa vòng vây, tả xung hữu đột, đôi búa vung lên tới tấp, đi đến đâu quân giặc tản ra đến đấy, làm cho thế trận chuyển bại thành thắng. Phủ Nhâm đứng trên cao quan sát mặt trận, chỉ tay bảo Bạch Công Thắng :

- Viên tướng kia thật là kiêu dũng, không trị đi tất lo ngại cho ta.

Đoạn hạ lệnh cho quân sĩ cung nỏ xông vào ứng chiến. Tư Chiềng đang ham đánh, bỗng thấy giặc rản vòng vây lui vào trong rừng, rồi tên ở đâu phóng ra như mưa. Tư Chiềng hết sức đỡ gạt hồi lâu, kiệt sức bị tên cắm vào người như lông nhím, kêu to lên một tiếng ngã lăn xuống ngựa chết. Thương thay! Năm ấy chàng mới có 45 tuổi.

Phủ Nhâm cả mừng truyền siết chặt vòng vây, nhất quyết bắt sống cho được vua Đại Hành.

Cam Mộc được tin Tư Chiềng chết rồi, giật mình kinh sợ, hô hào các tướng hết sức bảo vệ hoàng thượng, mở một đường máu để chạy.

Thiên Tường liều chết vào cướp được thây cha, vừa phá được vòng vây ra, thì gặp Ngô Ban và Phủ Thiềm đến. Thiên Tường cố sức đánh với hai người, đang mười phần nguy cấp, chắc sẽ chết. Chợt một tướng phi ngựa như bay đến thét to :

- Chạy mau, mặc ta cự với giặc.

Thiên Tường mừng quá gọi ầm lên :

- Lý huynh, cứu em với.

Lý Công Uẩn để cho Thiên Tường chạy thoát, một mình đánh hai người rất hăng hái, cát bụi bay mù, quân sĩ đứng ngoài trợ chiến, reo hò ầm ĩ. Công Uẩn càng đánh càng hăng, ngọn thương lấp loáng như hoa lê rụng, đỡ trên gạt dưới, khiến cho hai người kia phải khen thầm, Phủ Nhâm trông thấy giật mình nói :

- Tướng Lê nhiều tay cừ khôi thật ! Không dùng độc thủ không được.

Đoạn gọi Công Nghĩa lên dặn nhỏ vài câu. Công Nghĩa vâng lệnh sai quân mang câu liêm và thừng chảo đi tắt đường, đến gò Lạc Đạo ở ngã ba con đường đi Phi Long sơn và Lãng Trung , mai phục ở đó. Ngô Ban và Phủ Thiềm rút quân lui. Công Uẩn không dám đuổi, quay đầu ngựa chạy. Qua ngang gò Lạc Đạo, câu liêm ở trong bụi thò ra móc chân ngựa ngã, Công Uẩn bất thần bị hất tung xuống đất. Một tướng xông ra hoa đao chém xuống. Công Uẩn trừng mắt nhìn, bỗng kêu to :

- Ô kìa ! Hiền đệ.

Công Nghĩa dừng tay đao, nhận ra Lý Công Uẩn mừng rú lên :

- Lý huynh !

Đoạn chàng ôm Công Uẩn dậy, nghẹn ngào nói :

- Trời ơi ! Một chút nữa thì em giết nhầm anh. Ở sa trường không phải là nơi chuyện trò, anh lên ngựa đi ngay.

Công Uẩn nhẩy lên ngựa, cầm tay Công Nghĩa nói :

- Em về với anh giúp nhà Lê có hơn không ?

- Đã ăn lộc chủ, phải trung thành với chủ. Không lẻ lại bội nghĩa quên ân được sao.

Thôi, anh chớ lần chần ở đây mà bị hại. Chạy nhanh đi.

Công Uẩn gật đầu, phóng ngựa đi tìm Cam Mộc.

Lại nói Vua Đại Hành bị vòng vây, nhờ có các tướng liều mạng đánh và cứu thoát được. Đám tàn quân chạy gần về Lãng Trung thì gặp đoàn tượng binh ra xung sát một hồi, bị thiệt hại ít nhiều, cố mở đường máu chạy thoát. Trẩm Tam bị bắt sống. Cù Vân bị chết.

Lúc bấy giờ trời đã về chiều, Phủ Nhâm thấy quân mình toàn thắng, liền hồi chiêng thu quân, rút về Khuê Sơn, mang theo rất nhiều chiến lợi phẩm. Vua Đại Hành về nghĩ ở Lãng Trung, hối vì không nghe lời Công Uẩn, nên bị thiệt hại nặng nề. Các danh tướng như Phạm Thiên Long, Lý Nhân đều bị thương, quân sĩ vừa chết vừa bị thương tới năm nghìn người. Nhà vua được tin Tư Chiềng và Cù Vân tử trận, thương tiếc vô cùng, liền gọi Thiên Tường đến uỷ lạo, và cho phép mang xác cha về an táng ở Hoa Lư. Thiên Tường khóc lạy tạ, rồi mang mấy tên quân gấp đường về kinh đô.

Nghỉ ngơi mấy hôm, nhà vua họp các tướng sĩ bàn kế đánh báo thù. Phùng Tất dâng trình ngự lãm bản đồ huyện Thạch Thành.

Vua phán :

- Rừng núi hiểm trở, đại binh không thể đường hoàng mà tấn công được. Các người có ý kiến gì hay, trẫm cho phép được tự do phát biểu.

Mưu sĩ Lê Tâm bàn rằng :

- Quân ta mới thua, người ngựa đều mỏi mệt, xin để sang xuân hãy phản công.

Lý Nhân cũng biểu đồng tình.

- Nhuệ khí của quân ta mất nhiều, đánh ngay bất lợi.

Lý Công Uẩn đứng lên nói :

- Chính lúc này mới nên đánh ngay. Giặc thắng trận tức sinh kiêu; việc canh phòng cũng trễ nãi. Ta đánh bất ngờ chỉ một trận là thành công.

Vua Đại Hành phán :

- Khanh định dùng kế gì ?

- Thần xem bản đồ thấy 49 động Hà Man đều ở rải rác trong rừng, dân cư thưa thớt. Chỉ có động Khuê Sơn là rộng rãi to lớn, nhà cửa đông đúc, các cơ quan hành chính và quân sự có lẻ tập trung cả ở đó. Vừa rồi giặc huy động một lực lượng lớn đi đánh trận, thì ở các nơi thanh niên phải gọi nhập ngũ gần hết, không còn người để canh giữ động nữa. Ta nên mang quân vòng sau lưng địch, đánh chiếm các nơi đó, chỉ để một ít quân giữ Thạch Thành. Giặc mất các nơi căn bản, thì Khuê Sơn không đánh cũng phải tan.

Vua mừng rỡ trao kiếm lệnh cho Công Uẩn.

- Trẫm nhường cho khanh điều khiển cuộc hành binh này. Các tướng ai không tuân, cho được phép "tiền trảm hậu tấu".

Công Uẩn quỳ xuống đỡ kiếm, lạy tạ.

Sáng hôm sau, Công Uẩn bận nhung phung, tay cầm bảo kiếm, hội các tướng sĩ lại nghe lệnh. Chàng cất tiếng sang sảng nói :

- Giặc cậy ở rừng núi hiểm trở để ẩn nấp. Nếu ta không đi sâu vào lòng địch, thì không thể thắng được. Quân sĩ mỗi người phải mang đủ lương thực mười hôm, thừng chảo thật bền, chiến mã để cả lại. Tôi sẽ dẫn đầu quân xung phong mở đường cho đại binh kéo theo sau. Đào đại nhân rước Hoàng thượng về đóng ở Thạch Thành để giặc khỏi nghi ngờ.

Các tướng đều răm rắp vâng lệnh.

° ° °

Bạch Công Thắng kéo quân về Khuê Sơn mở tiệc ăn mừng. Dân Mường dắt nhau về Khuê Sơn để dự ngày hội "Chiến Thắng". Viên tù trưởng sai bầy các chiến lợi phẩm ở chợ để dân chúng xem. Quân sư Hoàng Phủ Nhâm được kính trọng đặc biệt, và coi như ân nhân duy nhất của họ, vì là người đầu tiên đã đem lại cho họ một chiến công rực rỡ nhất trong lịch sử dân Mường.

Một vị vua anh hùng như Lê Đại Hành đã từng đánh bại quân Tống ở trận Chi Lăng, đã một phen dày xéo lên kinh thành Chiêm Quốc mà phải lui bước trước một toán quân ô hợp. Đó chẳng phải là một bài học thâm trầm tế nhị của tạo hoá để cảnh cáo những kẻ xâm lăng đã quá tin ở lực lượng hùng hậu của mình, định nuốt sống ăn tươi một dân tộc lạc hậu, không chịu uốn mình làm nô lệ cho người khác. Sự thắng trận đã làm cho người Mường trở nên quá lạc quan và tự cho mình là một dân tộc anh hùng nhưng có ngờ đâu quân đội Đại Cồ Việt hồi bấy giờ đã hùng cường lắm rồi. Và sự thất bại vừa qua tuy có nặng nề thực, nhưng không đủ cho vua Đại Hành tan cái mộng bành trướng thế lực về phương Nam.

Suốt mấy hôm, dân Mường say sưa cạnh hủ rượu, nhảy múa ca hát quanh ngọn lửa, xao nhãng việc canh phòng. Họ đã gián tiếp giúp cho đạo quân Lê vượt qua những khu rừng rậm rạp, những ngọn núi cao ngất trời, những dòng suối nước chảy như thác. Quân Lê đã chiếm hết các động một cách dễ dàng, và đang tiến về Khuê Sơn, một vị trí quân sự cuối cùng của Mường. Bạch Công Thắng được tin báo giật mình hỏi kế Phủ Nhâm.

- Ta dốc hết lực lượng đánh một trận, được thua rồi sẽ hay.

Các tướng sĩ thấy nói quê hương bị chiếm, vợ con chưa biết sống chết ra so, ai nấy đều lo lắng sợ hãi, không còn bụng dạ nào nghĩ đến chuyện đánh nhau nữa.

Luôn hai hôm, tin báo quân Lê ba mặt kéo đến đông như kiến cỏ, toán quân xung phong chỉ còn cách Khuê Sơn độ vài ba dặm đường. Phủ Thiềm, Công Nghĩa, Ngô Ban ra đánh đều bị thương chạy về. Phó tướng là Bạch Công Hàm trốn mất. Tình thế cực kỳ nghiêm trọng.

Tù trưởng Bạch Công Thắng không muốn để bị bắt bèn thắt cổ tự tử. Các tướng sĩ bỏ theo quân Lê rất nhiều. Hoàng Phủ Nhâm trong lúc bối rối chợt nghĩ đến Trẩm Tam là bạn cũ của mình đang bị giam ở hậu dinh, liền sai quân dẫn lên, Trẩm Tam tưởng Phủ Nhâm nhớ đến thù xưa, đem đi hành tội, chắc mẩm thế nào cũng chết.

Phủ Nhâm mời ngồi rồi nói :

- Bao nhiêu chuyện cũ, ta bỏ hết. Tình thế nguy ngập lắm, anh có giúp ta được việc gì không?

Trẩm Tam đáp :

- Chỉ có hàng là bảo toàn tính mạng.

- Anh có chắc bảo đảm được tính mệnh gia đình ta không ?

- Xưa nay có ai giết hàng tướng mà anh phải lo ?

- Ta trót sát hại nhiều quân Lê, sợ bị báo thù.

Trẩm Tam ngẫm nghĩ một lát rồi đáp :

- Tướng điều khiển cuộc hành binh này là Lý Công Uẩn, tức là cháu ngoại Kim Chung. Vì tình đồng hương chắc hắn không nỡ làm tội đâu. Được, tôi sẽ nói giúp, anh không ngại.

Qúa ngọ thi quân Lê chiếm Khuê Sơn, không gặp một sức kháng chiến nào. Hoàng Phủ Nhâm đem gia quyến ra hàng; dâng sổ khai dân số và đồng tiền, châu báu, vàng bạc ước tới mấy muôn lượng. Công Uẩn sai niêm phong cẩn thận cho quân tế tác về Thạch Thành báo tin thắng trận. Trừ Hoàng Công Nghĩa được Tiến Thành đem dấu kín, cho thay đổi quần áo với quân Lê, còn bao nhiêu các hàng tướng đều bị giam ở một nơi, đợi lệnh của Hoàng Thượng phát lạc. Vua Đại Hành được tin báo, cả mừng khen rằng :

- Lý Công Uẩn thật là một tướng tài, xứng đáng là lương đống của quốc gia.

Đoạn ngài cùng với Đào Cam Mộc, và Ngô Tử An đem một toán quân về Khuê Sơn. Công Uẩn đem các tướng ra nghênh giá. Vua xuống ngựa cầm tay Công Uẩn, phán :

- Khanh là đệ nhất công thần của trẫm. Đợi về triều, trẫm sẽ phong thưởng cho.

Công Uẩn sai dẫn các hàng tướng ra chịu tội. Vua phán hỏi :

- Ai là Hoàng Phủ Nhâm ?

Phủ Nhâm dập đầu thưa :

- Tội thần kính chúc thánh hoàng vạn tuế.

- Ngươi gốc tích là người Việt, lưu lạc sang đất Mường, xui giặc làm phản, tội đáng đem chính pháp, nhưng đã biết ăn năn tội lỗi thì trẫm cũng tha cho. Cha con người muốn gì bây giờ ?

Phủ Nhâm ôm mặt khóc tâu rằng :

- Thần tội đáng chết, được bệ hạ tha cho, dẫu phải nhẩy vào đống lửa cũng không dám từ chối. Sách có câu :

"Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào Nam chi". Thần dẫu ngu muội nhưng không phải là kẻ vong bản. Cúi xin Thánh hoàng cho phép cha con thần được trở về quê hương, trông nom phần mộ tổ tiên, nguyện không dám đem dạ phản nghịch.

Vua quay lại hỏi Lý Công Uẩn :

- Bạch Công Thắng sao không thấy đến hầu ?

- Tâu Hoàng thượng, hắn sợ tội nên đã tự sát rồi.

- Hắn có con cái gì không ?

Bạch Công Hàm quỳ xuống tâu :

- Tội thần là Bạch Công Hàm, bào đệ của Bạch Công Thắng. Kính chúc Thánh hoàng vạn tuế.

- Trẫm cho người được nối nghiệp anh làm tù trưởng cai quản 49 động Hà Man. Ngươi phải hết lòng thờ chúa, chớ manh tâm phản nghịch mà khó tránh khỏi tội. Mỗi năm phải về triều cống một lần, chớ có trái lệnh.

Bao Công Hàm lạy tạ Ơn.

Vì sắp đến Tết Nguyên Đán, nên nhà vua ra lệnh cho các tướng sĩ cấp tốc sửa soạn hồi hương.

Đến 25 tháng chạp, đại binh trống róng cờ mở cuồn cuộn kéo về Hoa Lư, dưới ánh nắng hồng tươi của một ngày xuân chớm nở.

° ° °

Năm Ất Tỵ (1005), tức là năm Ứng Thiên thứ 12, vua Đại Hành thăng hà. Lúc ấy quan Điện Tiền Chỉ Huy Sứ là Lý Công Uẩn đang bận đi kinh lý hạt Đằng Châu, nên không được biết những sự rối loạn ở trong triều.

Khi Long Đĩnh giết anh cướp ngôi, thấy Công Uẩn nắm giữ cả binh quyền, sợ để lâu ở ngoài sinh biến, nên giáng chiếu gọi về. Công Uẩn cũng biết tân quân nghi kỵ nên mấy lần dâng sớ bày tỏ lòng trung nghĩa của mình. Trong sớ có mấy câu đọc nghe rất cảm động.

"…Hạ thần đội ơn tiên đế cho cơm ăn, áo mặc, dù thịt nát xương tan cũng không quên được. Bệ hạ lấy ơn nghĩa trị thiên hạ, muôn dân ai cũng là tôi con, chớ nghe lời sàm báng, mà ngờ oan cho thần. Hiện nay bốn phương giặc giã chưa tan, hạ thần ở ngoài mượn uy thiên tử mà dẹp loạn, lấy đức của thiên tửvỗ về trăm họ, ngày đêm hướng mặt về cửa Khuyết, mong cho công việc chóng xong để được về chầu bệ ngọc. Các võ tướng cùng quân sĩ để ở Đằng Châu cũng không cần lắm, thần sẽ cho về Hoa Lư hết, chỉ giữ lại 2000 quân già yếu ở dưới trướng để sai bảo mà thôi." Nhà vua nhận được sớ của Công Uẩn cũng dẹp bớt tính nghi kỵ, liền hạ chiếu phủ dụ :

"….Khanh nên hết sức phù tá Lê triều để khỏi phụ lòng uỷ thác của tiên đế. Phàm các công việc ở địa phương lớn nhỏ, trẫm cho khanh được phép tiện nghi hành ự." Công Uẩn ở Đằng Châu chiêu mộ những người nghèo khó cho đi khai khẩn những thửa đất bỏ hoang lập chợ, khơi ngòi, đặt quan cai trị. Hai năm liền Đằng Châu mất mùa, dân sự đói kém, Công Uẩn sai đem thóc ở kho phát cho dân, lại sai người đi quyên tiền gạo của nhà giầu giúp đỡ kẻ nghèo. Trăm họ đều ca tụng công đức. Thường thường Công Uẩn cùng với Trẩm Tam và Công Nghĩa đem vài tên quân đi các làng xem xét dân tình, đối với mọi người một mực khiêm tốn, lại bao dong những giặc cướp đã quy thuận, tìm cho công ăn việc làm, khiến cho hạt Đằng Châu mới có trong vòng vài năm đã thành ra một nơi an ninh trù mật.

Một hôm, ba người ở công đường đang nói chuyện suông với nhau, bỗng thấy lính vào đệ trình một danh thiếp. Công Uẩn xem thấy ba chữ :

"Vương Trọng Lâm", cả mừng nói :

- Vương sư phụ sang chơi, chúng ta ra đón người vào.

Ba người đứng dậy ra ngoài dinh thấy Vương Trọng Lâm cùng đứng với hai người nữa, nhìn ra thì là Quách Chí và Lâm Đồng. Công Uẩn chạy lại vái Trọng Lâm :

- Kính chào sư phụ.

Rồi quay lại thi lễ hai bạn.

Trẫm Tam nhìn Trọng Lâm cười, nói :

- Hiền đệ mái tóc đã hoa râm, thế mới biết đời người chóng già thực.

Trọng Lâm cũng cười đáp :

- Trẫm huynh đã ngoài 60, tinh thần còn quắc thước lắm. Râu tóc bạc phơ trông có vẻ tiên phong đạo cốt.

Mọi người vào trong dinh, ngồi chuyện trò thân mật. Trọng Lâm hỏi Công Uẩn :

- Hiền khế có về thăm sư trưởng lần nào không ?

- Thưa có.

- Hiền Khế định bao giờ về Hoa Lư.

- Bẩm, sang tháng.

- Sư trưởng có dặn hiền khế làm việc quan phải thận trọng, đề phòng kẻ tiểu nhân hại ngầm.

Công Uẩn vâng lời.

Gia đình bầy tiệc, thầy trò, bạn bè lâu ngày mới gặp nhau, hàn huyên kể lể, chén tạc chén thù.

Qúa trưa, Trọng Lâm đứng dậy cáo từ, cầm tay Công Uẩn nói :

- Ta tuổi già, gân cốt suy nhược, có ở lại cũng chẳng giúp hiền khế được việc gì. Quách Chí và Lâm Đồng còn đang tuổi thanh niên, vã lại có chút tài nghệ, hiền khế nên dùng làm thủ túc, sớm tối bàn bạc công việc. Ta có đứa con trai, tuy đã lớn tuổi, nhưng ngu độn quá, chỉ có thể vác nổi cái cầy chứ không cầm nổi ngọn bút hay thanh gươm. Nhưng thôi biết an phận nơi đồng ruộng là sung sướng lắm rồi. Ta chúc cho hiền khế gặp được nhiều may mắn trên đường công danh.

- Để ta đi kẻo muộn.

Công Uẩn cùng các bạn đi tiễn hơn một dặm đường mới quay ngựa trở lại.

Về đến dinh, đã thấy dân sự đứng đen đặc cả hai bên vệ đường, xô đẩy nhau, kêu la ẫm ĩ. Lính canh hò hét khản cả cổ mà vẫn không giữ được trật tự. Công Uẩn ngạc nhiên ngồi trên mình ngựa quát hỏi sự thể. Một cụ già tiến lên vái dái một cái, rồi sụt sùi nói :

- Bẩm chúng con nghe tin thượng quan sắp sửa phải về kinh đô, nên rủ nhau đến thỉnh cầu thượng quan hãy nán lại ít lâu thi ân, tác phúc cho chúng con được nhờ.

Công Uẩn vẫy tay cho cụ già lui ra rồi thét to :

- Dân chúng lặng yên mà nghe.

Những tiếng ồn ào phút chốc im bặt.

Chàng thong thả nói :

- Bản chức phục mệnh thánh hoàng đi kinh lý các nơi, chỗ thì năm ba tháng, chỗ thì một năm, riêng ở Đằng Châu ròng rã gần ba năm tưởng cũng là lâu lắm rồi. Dân chúng cứ yên ổn làm ăn, tôn trọng pháp luật của triều đình, nhất nhất ghi nhớ lời bản chức căn dặn từ trước đến nay. Thì dù bản chức ở xa mà cũng như gần các người vậy. Sang tháng, bản chức sẽ lên đường, các người có lòng ái mộ, bản chức hết sức cảm ơn.

Mọi người đều lặng lẽ rút lui, tỏ vẻ buồn rầu.

Khi dân chúng đã đi hết. Công Uẩn quay lại nói với các bạn hữu :

- Ở những địa phương mà đệ đã đi qua, dân chúng đều tỏ cảm tình như thế cả. Cho nên lúc bước chân ra đi, lòng cũng thấy xao xuyến bồi hồi.

Lâm Đồng tiếp lời :

- Hồi đại huynh đi kinh lý hạt An Phong, lúc ra về, dân chúng khóc lóc, mến tiếc. Sau đó ít lâu, bỗng thấy khắp kẻ chợ nhà quê, trẻ con hát mấy câu mà không ai hiểu nghĩa là gì.

- Hiền đệ còn nhớ không ?

- Có. Mấy câu như thế này :

Gà chuồng vỗ cánh bay cao.

Rồng thiêng theo ngọn ba đào thẳng xuôi.

Chó vàng nghếch mỏm vẩy đuôi Đón người hiệp sĩ còn ngồi đây kia Xây chùa gõ mõ đục bia Cúng tám ông tượng thia lia một bà.

Công Uẩn phì cười nói :

- Thế thì thánh cũng phải chịu.

Công Uẩn tiếp :

- Sao hiền đệ không hỏi sư trưởng ?

- Có, nhưng sư trưởng bảo hỏi đại huynh.

Trẩm Tam xen vào :

- Tài học như sư trưởng thông hiểu cả thiên văn, địa lý, nhâm cầm độn toán đều giỏi, mà còn chịu, thì còn ai hiểu nổi.

Thấm thoát được hơn nửa tháng, Lý Công Uẩn truyền sắp sửa hành trang trở về Hoa Lư. Chàng cho vời viên huyện lệnh lại nói :

- Tiên sinh cai trị dân, nên lấy đức mà cảm hoá người, đừng nên hà khắc quá. Nếu biết thương yêu dân, gây hạnh phúc cho dân, thì giặc cướp cũng hết, mà thân mình cũng được bình yên. Gọi là có mấy lời tâm phúc, xin tiên sinh đừng quên.

Huyện lệnh cúi đầu vâng lời.

Chàng sợ dân chúng biết, rủ nhau đến đưa tiễn phiền phức, nên bí mật cho quân sĩ đêm hôm ấy kéo đi, rồi gấp đường về Hoa Lư.

° ° °

Năm Bính Ngọ (1006). Trên con đường từ châu Phú Lâm về Hoa Lư, một đoàn người chầm chạp bước đi dưới ánh nắng gay gắt của một ngày mùa hạ. Họ chỉ mặc có một cái quần, đầu chỉ đội cái nón rách, mình trần trùn trục, phơi màu da cháy đỏ. Họ bị trói, hai tay quặt đằng sau, đeo ở cổ một cái gông bằng gỗ lim nhẵn bóng, vì tắm nhiều mồ hôi. Một toán lính độ hai chục người, miệng hò hét thôi thúc, tay phải cầm gương tuốt trần sáng loáng, tay trái cầm chiếc roi mây to bằng ngón tay cái, thỉnh thoảng lại vùn vụt quật lên lưng các phạm nhân tiếp theo những câu chửi rủa tục tằn. Bọn lính mỗi lần giơ chiếc roi lên là phạm nhân lại dừng chân lại để thu hết gân sức đón lấy hình phạt, đầu gục xuống chiếc gông, vai nhô lên một tí, miệng rên rỉ, ấm ứ như một con lợn đem chọc tiết. Có lúc họ quắc mắt nhìn trời, cổ bạnh, đường gân nổi lên chằng chịt, hai chân dậm mạnh xuống đá sỏi, mắt đầm đìa lệ và máu, họ rú lên từng cơn như muốn khạc hết nỗi căm hờn lên đầu bọn người vô nhân đạo.

Họ đi đến một trạm canh gác thì được nghỉ dưới rặng cây có bóng mát. Viên trạm trưởng ra kiểm điểm tù nhân xong, ký và đóng triện vào tờ giấy thông hành, rồi phân phát cho mỗi người một nắm cơm con. Hai tay đã bị trói, tù nhân được bọn lính bẻ đôi nắm cơm đút vào miệng cho. Họ nhai ngấu nghiến, nuốt chập chuội, làm cho ta có cảm tưởng như đối với những dạ dày đói cơm đã hơn một ngày thì dù nắm cơm gạo hẩm kia có lẫn cả sỏi cát hay rễ cây, họ cũng vẫn thấy ngon lành như được nếm một thứ trân cam mỹ vị.

Cơm nước xong, cuộc hành trình lại bắt đầu. Đoàn người lại lê chân trên con đường cát bụi để đi đến một chỗ mà họ chắc chắn nắm phần chết sau một thời bị cực hình.

Chiều tối, họ đến Hoa Lư, và theo như thường lệ thì các phạm nhân phải đến trình diện ở dinh quan Phủ Doãn, rồi mới phân phát đi các ngục thất ở kinh thành.

Nguyên từ khi vua Đại Hành thăng hà, các hoàng tử tranh nhau ngôi báu. Lê Long Đỉnh giết anh là Long Việt, cướp lấy ngai vàng, thì trong hoàng gia chia ra đảng nọ phái kia, mưu việc ám hại lẫn nhau, làm rối loạn cả triều đình.

Long Đỉnh vốn tính đa nghi, tuy nắm được quyền hành trong tay, lại sợ lòng dân không phục, nên thi hành chính sách khủng bố, tàn bạo quá Kiệt, Trụ. Các vị đại thần như Phạm Cự Lượng, Ngô Tử An, Tử Mục đều nối gót nhau mà qua đời. Trong triều, gian đảng hoành hành, thù hằn ai thì sai lính bắt giam cầm một nơi, hoặc đem giết đi. Ngục thất không đủ chứa phạm nhân, phải làm thêm nhiều mà vẫn chật. Lương dân bị ức hiếp đành cắn răng mà chịu không biết kêu ca vào đâu được. Không ngày nào là không có tù nhân ở nơi đưa về. Họ bị kết tội là "âm mưu khuynh đảo triều đình", hay tư thông với "ngoại bang" và đều bị lên án hình. Nhà vua thì chỉ biết vui sướng trong hoàng cung với bọn phi tần, yến tiệc suốt ngày đêm giao phó việc triều chính cho hai tên gian thần là Thúc Lâm Cang và Lê Bảo.

Lâm Cang quê ở Tam Đới (Phủ Vĩnh Tường bây giờ), mồ côi từ thuở nhỏ, xin vào làm gia nhân cho họ Vương. Sau vì tội ăn cướp bị chủ đuổi, lưu lạc về Hoa Lư, đi giúp việc cho nhà sư Tâm Thanh ở chùa Chúc Long. Một buổi sáng, sư già lên Tam Bảo thấy pho tượng Như Lai mất chiếc vòng vàng, liền tra hỏi Lâm Cang. Cang chối là không biết, lại đổ cho tiểu lấy cắp. Sư già tức mình sai nọc đánh mấy roi, toan đuổi đi, thì lại có khách vào lễ phải ra tiếp. Lâm Cang sợ tội bỏ trốn đi, lang thang mấy hôm, tình cờ gặp hoàng tử Long Đỉnh đi săn, xin vào làm môn hạ vì lúc bấy giờ Long Đỉnh có ý định mưu sự thoán nghịch nên thu dùng những tên vong mạng để làm vây cánh, lại ngấm ngầm đem vàng bạc mua chuộc các quan triệu Lâm Cang vào hầu hạ vương phủ. Nhờ tài nịnh hót nên được lòng mọi người. Hắn có sẵn trí thông minh lại vỏ vẻ dăm chữ học được hồi ở chùa, giao du khéo léo, ứng đối nhanh nhẹn, nên được Long Đỉnh chìu chuộng, liệt vào hạng thuộc hạ tâm phúc. Kịp khi vua Đại Hành thăng hà, Long Đỉnh sai Lâm Cang giết anh là Long Việt chiếm lấy ngôi báu.

Vì có công lao, nên Cang được tân quân tin cậy giao phó cho quyết định mọi công việc ở trong triều. Lâm Cang, một bước lên địa vị cao sang, tha hồ vơ vét lại kết nạp với Lê Bảo là người trong hoàng phái, khuynh loát các quan, làm lắm điều xằng bậy.

Hai tên gian thần này vốn có tư thù với quan Điện Tiền Chỉ Huy Sứ, là Lý Công Uẩn, nên ngày đêm tìm cách mưu hại, nhưng chưa có dịp. Một hôm, Lâm Cang rình lúc nhà vua đang say rượu, liền quỳ xuống tâu rằng :

- Lý Công Uẩn âm mưu với các quan triều thần khởi loạn, xin Hoàng Thượng định liệu.

Long Đỉnh giận phán :

- Khanh mang 500 quân đến nhà Công Uẩn bắt hết cả già, trẻ, lớn, bé đem hành hình theo chính pháp.

Quan trực diện tướng quân là Dương Khôi can rằng :

- Lý Công Uẩn là bậc nguyên huân của Tiên Đế, sự phản nghịch chưa rõ rệt, nếu đem giết ngay, sợ đình thần dị nghị. Vả lại, hiện nay hắn thống lĩnh cả vệ binh nếu ta bạo động ắt xảy ra chẳng lành.

Vua phán :

- Nếu không trị ngay sợ sinh ra hậu hoạn.

Lê Bảo hiến kế :

- Hồi còn Tiên Đế, Lý Công Uẩn hai ba lần tâu xin dời kinh độ ra Đại La, nhưng Tiên Đế không nghe. Bệ hạ nên giáng chiếu cho hắn ra đấy xây dựng cung điện, đào hào phòng thủ, hẹn trong một năm phải xong. Công việc này đòi hỏi rất nhiều nhân công và tốn kém có tới hàng muôn lượng bạc. Bệ hạ chỉ cho dăm nghìn lượng thôi, nếu hắn kêu là thiếu thì kết tội là dụng ý hà lạm ngân quỹ, đem hành hình theo chính pháp.

- Nếu hắn không nài thêm thì sao ?

- Đợi hắn ra Đại La khởi công, hạ thần sẽ hạch tấu là Công Uẩn thân làm một vị đại tướng mà lại đem lòng siểm nịnh, phao phí công quỹ để dân chúng ta oán thán triều đình. Lúc đó, bệ hạ giả cách nhận lỗi, chúng hạ thần sẽ hợp nhau lại kết tội hắn "có ý mê hoặc quân vương", đem giết là xong.

Long Đỉnh gật đầu :

- Khanh bàn rất hợp ý trẫm.

° ° °

Sáng hôm sau vua ngự triều, các quan văn võ chia nhau đứng hầu hai bên. Một hồi trống long phụng vừa dứt, rèm ngự cuốn lên, các quan phủ phục tung hô vạn tuế. Vua truyền bình thân rồi phán hỏi :

- Lý khanh đâu ?

Đào Cam Mộc xuất ban tâu rằng :

- Tâu bệ hạ, Lý Công Uẩn đi kinh lý hạt Đằng Châu chưa về.

- Trẫm định dời kinh đô về Đại La, muốn uỷ cho Công Uẩn đốc thúc thợ xây dựng cung điện. Các khanh nghĩ có nên không ?

Lý Nhân can rằng :

- Hoa Lư là nơi phát triển của nhà Đinh, sông núi hiểm trở, có thể gây dựng cơ nghiệp lâu dài. Bệ hạ chỉ nên cho mở mang rộng rãi thêm lên, không nên dời đi chỗ khác.

Long Đỉnh lặng yên không nói. Lê Bảo đưa mắt làm hiệu. Nhà vua bất đắc dĩ phán :

- Được, đợi Lý khanh về sẽ liệu.

Nội thị dân trà giải khát. Đang lúc ấy bỗng thấy một tên thị vệ dắt một tên tù, bị trói chặt ra đứng giữa triều đường, vua phán hỏi :

- Tên kia bị tội gì ?

- Tâu bệ hạ, tên này bị tội âm mưu phản nghịch.

- Trẫm nối nghiệp của Tiên Đế, lấy nhân nghĩa mà cai trị thiên hạ, thương dân như con, quý người như quý mình, tuy chẳng nối gót được Thang, Vũ nhưng cũng không đến nỗi như Kiệt, Trụ. Không ngờ vẫn còn những kẻ ngoan cố, tìm cách quấy rối sự an ninh, cổ hoặc dân chúng, kết bè đảng âm mưu khuynh đảo triều đình. Pháp luật đặt ra cốt để trị tội những kẻ xằng bậy, trẫm không thể nhắm mắt làm ngơ được. Võ sĩ đâu ? Đem tên này ra tẩm dầu đốt.

Lệnh vừa ban ra đã thấy bên tả cung, hai cánh cửa mở rộng, một tên võ sĩ lực lưỡng nhẩy xổ ra vật phạm nhân xuống đất, lấy vải quấn chặt từ đầu đến chân. Một tên khác mang bốn mảnh tre khô rộng bản, đặt lên ngực, lưng và hai bên mạng sườn, rồi lấy thừng buộc ở ngoài như khi ta bó một cái dò mở.

Ngay lúc ấy, hai tên nội giám khênh một cái vạc đầy dầu đặt ở dưới chân bệ. Rồi cả bốn tên xúm lại nhấc bổng phạm nhân lên dúng vào vạc, đoạn để dựng đứng "cây đèn người" lên. Công việc này chúng làm rất quen tay, không chút lóng cóng ngượng nghịu, dưới con mắt kinh khủng của các quan triều thần.

Một hồi chuông réo lên giờ hành tội. Tên nội giám cầm chiếc đuốc đang cháy dí vào "cây đèn người", ngọn lửa bắt vào vải ướt đẫm dầu, lem lém ăn lan khắp người, rồi phút chốc đỏ rực. Phạm nhân ấm ứ kêu nhưng không ra tiếng, muốn dẫy dụa nhưng tứ chi bị bó chặt, chỉ còn cái cổ động đậy một lúc rồi im hẳn. Thịt xèo xèo cháy, toa? một mùi khét lẹt, gay gay và lợm giọng. Ngọn lửa bốc ngùn ngụt, rọi ánh sáng vào những khuôn mặt ngơ ngác, xanh xám. Trong lúc ấy thì quả chuông vẫn rền rĩ nhả những tiếng khóc não nùng, ai oán như để tiễn đưa oan hồn về cõi u minh.

Trên ngai vàng Long Đỉnh lạnh lùng ngồi chứng kiến tấn thảm kịch. Khi ngọn lửa đã tắt, vị vua bạo ngược lên xe về cung, Lê Bảo cũng đi theo.

Xe giá đã về từ lâu rồi mà các quan cũng không biết, chầu chực mãi đến giờ tị. Đào Cam Mộc xuất ban vừa nói được câu "Bệ hạ", thì chợt nghe có tiếng người nhại lại. Cam Mộc ngẫng đầu nhìn lên trên điện, thấy vắng tanh, chỉ còn lại một thằng hề đang khoa chân múa tay, nhe răng bạnh cổ như chế riễu mình. Cam Mộc nén giận, quay lại nói với các quan. Ai nấy đều thở dài, lui ra.

Long Đỉnh về ngự Ở lầu Phượng Nhỡn truyền bày yến tiệc và sai gọi cung nữ đến múa hát. Lâm Cang đứng bên rót rượu trông lên tường thấy một bức tranh Phật Quan Âm sực nhớ đến thù xưa, mũi lòng để rơi hai hạt lệ.

Long Đỉnh nhìn thấy ngạc nhiên phán hỏi :

- Thúc khanh có điều gì mà âu sầu thế ?

Lâm Cang quỳ xuống rập đầu tâu :

- Thần mong ơn bệ hạ được vinh hiển một thời, hồi tưởng lại lúc còn hàn vi, bị mắc tiếng oan, sau không biết biện bạch cùng ai được.

- Tình cảnh oan uổng ra sao ?

- Nguyên hạ thần mồ côi sớm, nhà nghèo phải đi làm thuê cho nhà sư Tâm Thanh ở chùa Chúc Long. Tên thầy chùa này vốn là đảng phái của Đinh Điền, nên thường tỏ lời khinh miệt Tiên Đế trước mặt các môn đồ. Hạ thần tuy ngu dốt, nhưn cũng hiểu thế nào là tam cương ngũ thường, nên phản kháng lại, thì hắn lại sinh lòng thù oán, vu cho hạ thần ăn cắp vàng bạc, đánh đập hạ thần rất tàn nhẫn. Hắn có làm một bài ca cực kỳ láo xược, phỉ báng hoàng giagieo rắc mầm phản nghịch vào óc mọi người.

- Khanh còn nhớ bài ca ấy không ?

- Thánh Hoàng có tha tội, hạ thần mới dám nói.

- Trẫm tha tội cho khanh.

- Bài ca như thế này :

Tiên Hoàng dẹp loạn sứ quân, Giang sơn thống nhất thần dân vui mừng.

Oai danh Vạn Thắng lẫy lừng, Tiếng hô "vạn tuế" tưng bừng khắp nơi.

Mười năm giữ vững ngôi trời Qúa tin Đỗ Thích thiệt đời danh thơm.

Cỏ cây còn biết căm hờn.

Ai này Lê Thị vong ơn tiếm vì Ra vào phượng liễn, loan nghi Ép duyên Dương hậu lỗi nghì tôi con Bốn phương ai kể lòng son ?

Tuốt gươm trừ kẻ gian ngoan bạo tàn.

Long Đỉnh nghe xong cả giận, đập bàn quát to :

- Sao bây giờ nhà ngươi mới nói cho trẫm biết ?

Lâm Can giả vờ run sợ, đập đầu chan chát xuống gạch, rồi tâu rằng :

- Tâu bệ hạ, thần hạ tội đáng chết, ngửa trông lượng thánh bao dung.

Long Đỉnh phán hỏi :

- Trực diện quan đâu ?

Dương Khôi quỳ lạy đợi lệnh.

- Nhà người đem 500 giáp sĩ đến chùa Chúc Long bắt hết các nhà sư rồi phóng hoa? đốt chùa nghe!

Dương Khôi lĩnh mệnh đi. Long Đỉnh còn chưa nguôi giận, cầm cái chén ngọc ném xuống gạch vỡ tan ra từng mảnh. Một tên cung nữ đứng gần đấy, sợ quá run lẩy bẩy, lỡ tay đánh rơi chiếc đàn cầm, tức thì bị nội giám lôi xuống thềm dùng côn đánh. Mọi người đều sợ thất sắc, tiếng đàn sáo bỗng nhiên im bặt, hàng trăm con mắt đổ dồn vào cái thây người nằm sóng sượt ở góc thềm, mồm và mũi ứa máu, xiêm áo tả tơi rách nát, để lộ những mảnh thịt tím bầm. Khi biết chắc là kẻ khốn nạn đã lìa trần, hai tên nội giám lấy chiếc chiếu cũ bó lại.

Rồi đàn sáo lại nổi lên, lại bắt đầu ca hát, nhịp nhàng và quyến rũ, trong khi những tà áo xanh, đỏ tung bay như cánh bướm nhởn nhơ trước gió.

Lại nói khi các quan triều thần lủi thủi ra ngọ môn quan, thì được tin Lý Công Uẩn đi tranh tra ở hạt Đằng Châu vừa về. Các quan rủ nhau sang chào mừng. Công Uẩn sai mở cửa giữa, thân ra đón tiếp các bạn đồng liêu vào tư thất chi ngôi chủ khách.

Công Uẩn hỏi :

- Hạ quan đi vắng ít lâu, trong triều có điều gì lạ không ?

Tả tướng quân Phạm Thiên Long tiếp lời :

- Chúa thượng càng ngày càng tàn bạo, đốt phạm nhân giữa triều đình, giam hãm lương dân, tưởng Kiệt, Trụ, đời xưa cũng không hơn được.

- Các quan không ai can gián được lời nào sao ?

Đào Cam Mộc nói :

- Chúa thượng tin dùng hai tên gian thần là Lê Bảo và Thúc Lâm Cang, miệt thị các quan, coi toàn dân như nô lệ, chém giết không ghê tay, phá hoại các luật lệ, dẫm nát cả kỷ cương. Trong hoàng cung ngày đêm đàn hát mua vui, ngoài triều đường, gian đảng hoành hành, xúi vua làm lắm điều càn bậy, lại nuôi những thằng hề nhại tiếng pha trò, chế diễu các quan. Thật không còn gì thể thống của một vị thiên tử nữa.

Công Uẩn ngẩn người một lúc rồi nói :

- Nếu thế thì loạn đến nơi rồi. Hạ quan sẽ hết sức can ngăn vua, dẫu chết cũng cam lòng.

Các quan ngồi chuyện vãn đến chiều toan về thì thấy viên thái giám là Chu Tâm đến chơi. Công Uẩn đứng lên nghênh tiếp. Chu Tâm vòng tay thi lễ với các quan, nói :

- Nhà được tin quan Điền Tiền Chỉ Huy Sứ mới về vội đến chào mừng, không ngờ lại được họp mặt với các quan đại thần, thật hân hạnh cho nhà quá.

Công Uẩn khiêm tốn đáp :

- Công công dời gót đến tệ phủ ắt có điều hay dạy bảo.

Chu Tâm thở dài đáp :

- Ngài có quen biết Tâm Thanh đại sư không ?

- Hạ quan với đại sư là chỗ thân thiết.

- Đại sư vừa bị cực hình và thác rồi. Chùa Chúc Long cũng bị đốt ra tro.

Các quan xúm lại hỏi. Chu Tâm thong thả kể chuyện lại :

- Chúa thượng bị Thúc Lâm Cang xúi giục, sai giáp sĩ đến bắt Tâm Thanh đại sư và phóng hoa? đốt chùa. Nhà được tin vội đến lầu Phượng Nhãn thì thấy đại sư đã bị bắt cùng với mấy tên đồ đệ. Chúa thượng không hỏi gì, sai lấy mía để lên đầu dùng dao róc vỏ. Thỉnh thoảng lại giả vờ nhỡ tay bổ dao xuống đầu, máu chảy chan hoà. Đại sư chỉ nhắm mắt niệm Phật, không hề hé răng kêu ca một lời nào. Sau vì đau quá! Đại sư cắn lưỡi tự tử. Chúa thượng sai bỏ thây vào giỏ cùng với mấy tên đồ đệ đem thả trôi sông. Chao ôi! Nhà được mục kích tấm thảm kịch, đến bây giờ hãy còn rùng mình kinh sợ.

Ai nấy đều thở dài. Công Uẩn hỏi :

- Công công có bận việc gì không ? Xin nán lại ở chơi với hạ quan.

- Nhà con phải đi tìm quan thái y vào thăm bệnh cho chúa thượng.

- Chúa thượng bệnh tình ra sao ?

Chu Tâm chép miệng nói :

- Giết đại sư xong, chúa thượng lấy làm hả hê lắm, nhân thấy cung nhân là Hoàng Hoa Nương múa đẹp, hát hay, nhan sắc xinh đẹp, chúa thượng động tình, lập tức sai căng màn trên lầu Phượng Nhãn, và cho vào hầu chăn gối. Không ngờ sau cuộc ái ân, thì chúa thượng tứ chi bại hoại, gân cốt nhường như suy kém nhiều chỉ nằm không ngồi dậy được. Khỏi hay không, còn đợi quan thái y mới biết được.

Đoạn Chu Tâm đứng dậy chào các quan rồi đi. Mọi người cũng xin cáo từ ra về. Công Uẩn tiễn đến cổng, mới quay lại. Phu nhân là Nguyễn Thị dắt các con ra đón vào phòng loan, yến tiệc. Công Uẩn cười nói :

- Phu nhân khéo vẽ vời, làm như vợ chồng mới cưới không bằng.

Nguyễn Thị cũng cười đáp :

- Tướng công vì việc nước, phải đi xa, mới về; thiếp tâm thành gọi có chén rượu tẩy trần để vợ chồng hàn huyên, nhân tiện muốn thưa với tướng công câu chuyện.. - Chuyện gì, phu nhân cứ nói ngay, hà tất phải rào trước đón sau mãi.

- Ngày ngày ra chợ, thiếp thường nghe thấy trẻ con hát câu này :

Thụ côn liễu liễu Hoà biểu thanh thanh Hoà đao mộc lạc Thập bát từ thành Thiếp không hiểu ra sao, đợi tướng công về hỏi cho rõ nghĩa.

Công Uẩn ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp :

- Bốn câu này nghĩa lý mờ mịt tôi cũng chịu.

- Hôm nọ, thiếp đi chùa Cảnh Tỉnh, thấy sư già nói là mấy câu nó ám chỉ vào tướng công. Thiếp gặng hỏi thì sư già chỉ cười không nói nữa.

- Ám chỉ vào chỗ nào ?

- Tướng công thử hỏi sư phụ xem !

- Tôi cũng định đón sư phụ vào đây để tiện việc trông nom. Còn mấy câu thơ kia có can hệ gì đến ta mà phải bận lòng.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn